Tổng Hợp Các bài thuyết minh về cây lúa ngắn gọn – Văn mẫu lớp 9

thuyết minh về cây lúa

Thuyết minh về cây lúa là dạng bài văn thuyết minh thường gặp trong chương trình Ngữ văn lớp 9. Cùng tham khảo bài hướng dẫn chi tiết dưới đây để nắm được cách làm dạng bài này em nhé. Văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây lúa thuộc bài viết số 1 lớp 9 đề 1, với 2 dàn ý chi tiết kèm theo 18 bài văn mẫu sẽ giúp các em học sinh hiểu sâu hơn, có thêm nhiều ý tưởng để hoàn thành bài viết số 1 của mình!

XEM THÊM: 1995 mệnh gì, là tuổi con gì, hợp màu gì? Hợp tuổi nào?

Văn thuyết minh là một trong số các kiểu văn cơ bản ngoại trừ những kiểu văn thường gặp như văn tự sự, biểu cảm, miêu tả, nghị luận,… nhằm cung cấp các hiểu biết căn bản về đặc điểm, tính chất,… của 1 đối tượng nào đấy đến người đọc, người nghe. Vậy thuyết minh về cây lúa Việt Nam cũng chính là cách chúng ta giới thiệu, sở hữu đến các hiểu biết cụ thể nhất về hình ảnh cây lúa tới người đọc. Muốn biết bài viết của bạn đã đủ ý hay chưa hoặc muốn học bí quyết trình bày hay, bạn với thể tham khảo bài văn mẫu lớp 9 của chúng tôi để bổ sung và hoàn thiện bài làm cho của mình.

Trong phần hướng dẫn viết văn mẫu hôm nay, chúng tôi sẽ giúp các bạn học cách làm bài thuyết minh về cây lúa Việt Nam, muốn tìm hiểu nội dung chi tiết bài văn là gì, vậy mời các bạn và các em học sinh đón đọc bài viết dưới đây của chúng tôi.

Dàn ý thuyết minh về cây lúa nước

Dàn ý chi tiết số 1

I). Mở bài:

  • Từ bao đời nay, cây lúa đã gắn bó và là một phần không thể thiếc của con người Việt Nam
  • Cây lúa đồng thời cũng trở thành tên gọi của một nền văn minh – nền văn minh lúa nước.

II) Thân bài:

1. Khái quát:

  • Cây lúa là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc.
  • Là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói chung và của Châu Á nói riêng.

2. Chi tiết:

a. Đặc điểm, hình dạng, kích thước:

  • Lúa là cây có một lá mầm, rễ chùm.
  • Lá bao quanh thân, có phiến dài và mỏng.
  • Có 2 vụ lúa: Chiêm, mùa.

b. Cách trồng lúa: Phải trải qua nhiều giai đoạn:

  • Từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ.
  • Rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng
  • Ruộng phải cày bừa, làm đất, bón phân.
  • Ruộng phải sâm sấp nước.
  • Khi lúa đẻ nhánh thành từng bụi phải làm có, bón phân, diệt sâu bọ.
  • Người nông dân cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo…

c. Vai trò của cây lúa và hạt gạo:

  • Vấn đề chính của trồng cây lúa là cho hạt lúa, hạt gạo.
  • Có nhiều loại gạo: Gạo tẻ, gạo nếp (dùng làm bánh chưng, bánh dày)…

* Gạo nếp dùng làm bánh chưng, bánh dày hay đồ các loại xôi.

* Lúa nếp non dùng để làm cốm.

– Lúa gạo làm được rất nhiều các loại bánh như: Bánh đa, bánh đúc, bánh giò, bánh tẻ, bánh phở, cháo,…

Nếu không có cây lúa thì rất khó khăn trong việc tạo nên nền văn hóa ẩm thực độc đáo của Việt Nam.

d. Tác dụng:

  • Ngày nay, nước ta đã lai tạo được hơn 30 giống lúa được công nhận là giống lúa quốc gia.
  • Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan về sản xuất gạo.
  • Cây lúa đã đi vào thơ ca nhạc họa và đời sống tâm hồn của người Việt Nam

III) Kết bài:

  • Cây lúa vô cùng quan trọng đối với đời sống người Việt
  • Cây lúa không chỉ mang lại đời sống no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.

Dàn ý chi tiết số 2

1. Mở bài

  • Gắn liền với hình ảnh làng quê Việt Nam là hình ảnh đồng lúa bao la, trải dài bát ngát.
  • Cây lúa mang lại nhiều giá trí tốt đẹp.

2. Thân bài:

2.1. Nguồn gốc

  • Xuất phát từ cây lúa dại và được người dân đưa vào trồng trọt khoảng hơn vạn năm trước.
  • Trong dân gian lưu truyền cây lúa được phát hiện bởi một đôi vợ chồng do nạn đói phải di cư vào rừng và vô tình phát hiện ra hạt giống lúa nhờ săn bắt chim rừng.

2.2. Chủng loại

  • Lúa tại Việt Nam có hai loại chính: lúa nếp và lúa tẻ.
  • Lúa nếp: lúa có hạt thóc ngắn thuôn dài hơn lúa tẻ, thường dùng để nấu xôi, rượu, bánh chưng,…
  • Lúa tẻ: lúa có hạt thóc khá nhỏ, dùng làm lương thực chính trong các bữa ăn

2.3. Đặc điểm

  • Lúa là cây thân cỏ, có thể đạt tới chiều cao tối đa khoảng 2m
  • Rễ chùm, dài tối đa lên tới 2 hoặc 3 km
  • Màu lá thay đổi theo từng giai đoạn phát triển, lá dẹp, dài
  • Hoa lúa: màu trắng, có nhụy và nhị hoa nên có thể tự thụ phấn thành các hạt thóc nhỏ

2.4. Quá trình phát triển

  • Người nông dân gieo mạ vào khoảng đầu xuân, gần tết.
  • Trước khi trồng tại ruộng thì mạ được gieo ở một khu đất riêng, mạ được ủ tại đó khoảng 3, 4 tuần để phát triển thành cây con.
  • Người nông dân nhổ mạ và bắt đầu cấy lúa tại ruộng.
  • Từ mạ thành cây con được gọi là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng
  • Thời kỳ tiếp theo là thời kỳ sinh trưởng sinh thực: mạ ra hoa trắng, hoa lúa trổ bông tạo thành các hạt thóc được bao bọc một lớp vỏ xanh bên ngoài.
  • Thời kỳ lúa chính là khi những hạt lúa xanh dần chuyển màu vàng nhạt, cây trĩu xuống, lá đầy ngọn ngả dần về màu vàng.

2.5. Giá trị

– Giá trị sử dụng

  • Lúa là lương thực của người dân, là thành phần của nhiều thực phẩm, món ăn hàng ngày như bún, phở, bột mỳ,bột nếp,….
  • Là nguồn lợi nhuận của người trồng thương mại hóa

– Giá trị tinh thần

  • Gắn bó hơn vạn năm với người dân Việt Nam
  • Việt Nam xếp thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới

3. Kết bài

  • Tương lai của cây lúa
  • Lúa chiếm giữ một vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân
  • Dù qua nhiều thập kỷ nhưng vị trí cây lúa không hề thay đổi

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 1

Đất nước Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước. Vì thế từ bao đời nay cây lúa đã gắn liền với nỗi nhọc nhằn, vất vả của người dân Việt Nam. Từ Bắc chí Nam, đâu đâu cũng xuất hiện những cánh đồng mênh mông bát ngát, trải dài tít tận chân mây như dấu hiệu cho mọi du khách nhận ra đất nước Việt Nam – đất nước nông nghiệp với sự gắn bó của con người và cây lúa xanh tươi.

Không biết từ bao giờ với định nghĩa cây lúa sở hữu trong từ điển Việt Nam. Từ một giống cây hoang dại, cây lúa đã được con người cải tạo và thuần hóa trở thành cây lương thực chính. Để có được các hạt thóc vàng căng mẩm là bao mồ hôi, công sức của người nông dân. Hạt thóc ngâm nước, ủ lên mầm, gieo xuống bùn trở thành cây mạ xanh non. Sau lúc khiến đất ký mạ non được bó lại như lên ba theo má ra đồng và được cắm xuống bùn sâu. Qua bàn tay trông nom của người dân cấy lúa đã phát triển xanh tươi thành ruộng lúa nối bờ bát ngát bát ngát.

Việt Nam với nhiều dòng lúa: lúa nước, lúa nổi, lúa cạn, lúa nếp, lúa tẻ,….Có nhiều mẫu thơm ngon, rất nức danh như lúa nàng hương, nàng thơm chợ đào,…. Nhiều giống lúa cho năng xuất cao, thích nghi ở phổ biến dòng đất khác nhau. Trừ những vùng quá phèn, quá mặn hoặc khô cằn. Ở đâu mang nước ngọt là với trồng lúa. Tuy nhiên cây lúa thích hợp nhất vẫn là đất phù sa. Ở nước ta, nghề trong lúa lớn mạnh mạnh ở các lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long.

Cây lúa nước là dòng cây thân cỏ, tròn có nhiều giống và đốt. Giống thường rỗng, đặc ở đốt. Lá dài với bẹ ấp ủ lấy thân. Gân lá song song. Những mẫu lá lúa giống như hình lưỡi. Dáng lá yểu điệu duyên dáng như trăm ngàn cánh tay bé xíu nô giỡn có gió. Sóng lúa nhấp nhô giữa chiều hạ hay nắng sớm mùa xuân gợi bức tranh đồng quê thi vị, mượt mà. Đó là đề tài quen thơ của thơ ca nhạc họa.

Rễ lúa là rễ chùm, mọc nông trên đất. Hoa lúa mọc thành bông, không sở hữu cánh hoa. Khi nở nhụy dài ra với chùm lông với tác dụng quét hạt phấn. Quả lúa (thóc) khô mang nhiều chất bột. Vỏ quả gồm vỏ trấu và vỏ cám. Vỏ cám dính sát vào hạt, còn vỏ trấu ở ngoài do máy tạo thành. Khi lúa tạo hạt, vỏ thóc xuất hiện trước bảo vệ phần tinh bột lớn mạnh sau ở bên trong.

Vụ lúa Việt Nam phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết nên thường với những thời vụ khác nhau. Vụ lúa chiêm gieo từ tháng 10 âm lịch gặt tháng 1-2 năm sau. Vụ lúa xuân gieo từ tháng 2 âm lịch gặt tháng 4-5. Vụ lúa hè – thu gieo tháng 5-6 gặt tháng 8-9.

Hạt lúa, hạt gạo là nguồn lương thực chính của Việt Nam. Cơm gạo là thức ăn chính trong bữa ăn con người Việt Nam. Từ hạt gạo có thể chế tạo ra những đặc sản như: Bánh tráng, bánh phồng, các loại bánh nổi tiếng của vùng. Nhưng đặc biệt nó có lẽ là bánh chưng, bánh giầy và cốm.

Lúa gạo là nguồn dự trữ đảm bảo an ninh lương thực của nước ta và thế giới. Xuất khẩu gạo là nguồn kinh tế làm giàu cho đất nước. Thân lúa (rơm, rạ ) dùng để làm các chất đốt. Rơm khô là thức ăn cho gia súc và còn là nguyên liệu cho các mặc hàng thủ công mỹ nghệ.

Sang thế kỉ XXI, Việt Nam đi vào xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng hình ảnh cây lúa và giá trị của nó vẫn là vị trí quan trọng nhất trong quá trình phát triển đất nước. Chẳng thế cây lúa còn được lấy làm biểu tượng của các nước trong khối ASEAN như một báu vật cao quý.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 2

Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. (Ca dao)

Hai câu ca dao ấy thật nhẹ nhàng đã đi sâu vào trái tim của hàng triệu, hàng triệu trái tim Việt Nam mỗi khi nhớ về chốn làng quê thanh bình với những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay. Và có lẽ, sẽ chẳng ai có thể quên được hình ảnh cây lúa nước – một biểu tượng một nét vẽ đơn sơ, bình dị mà rất đỗi xinh tươi trong bức tranh về làng quê Việt Nam.

Cây lúa là một trong năm dòng cây lương thực cốt yếu của thế giới và là loại cây lương thực chủ đạo ở Việt Nam. Cây lúa với căn nguyên nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực Đông Nam Á của châu Á và ở châu Phi. Thêm vào đó, cây lúa còn là loài thực vật thuộc 1 cái cỏ đã được con người thuần dưỡng, đưa vào nhân giống, cấy ghép và phát triển. Và như vậy, mang căn nguyên ấy, cây lúa sở hữu thể phát sinh, lớn mạnh một phương pháp mau chóng trong điều kiện khí hậu, thời tiết ở Việt Nam.

Nếu như các loài cây lương thực khác trên thế giới như khoai tây, bắp, lúa mì, sắn sống ở trên cạn thì cây lúa lại hoàn toàn khác. Lúa là loài cây thủy sinh, sống và tăng trưởng cốt yếu ở môi trường nước. Thông thường, mỗi cây lúa cao khoảng một tới 1,8 mét. Thêm vào đó, lúa là loài cây rễ chùm, vì vậy, nó sở hữu thể bám chắc vào trong lòng đất để hút dưỡng chất, phân phối cho giai đoạn sinh trưởng, phát triển.

Lúa là loài cây thân thảo, thân cây được chia khiến cho các mắt khác nhau, bên trong thường rỗng. Ở mỗi làng quê, vào vụ gặt, lũ con nít thường dùng thân cây lúa để làm cần các chiếc kèn, âm thanh của các tiếng kèn đấy nghe thật vui tai, như góp phần xóa đi mẫu nắng nóng của mùa hè và sự mệt nhọc của những ngày mùa. Lá cây lúa hình dẹt dài và mỏng mọc bao phủ bên ngoại trừ thân cây.

Tùy vào từng thời kì mà lá cây lúa với độ dài và màu sắc đẹp khác nhau. Thì con gái, lúa khoác lên mình các loại áo xanh mát và tới gần mùa thu hoạch thì lá lúa chuyển sang màu vàng.

Đặc biệt, sau 1 thời kì gieo trồng, cây lúa trổ bông. Bông lúa thường dài từ 35 đến 50 xăng-ti-mét, cất cực kỳ rộng rãi hạt lúa, rủ xuống trông siêu tuyệt. Những bông lúa đấy chính là sự kết tinh những tinh hoa của trời đất và tấm lòng, sự bắt buộc cù, chăm chỉ của những người lao động nơi chốn làng quê.

Ở nước ta hiện nay thường có hai vụ lúa chính là vụ chiêm (thu hoạch vào khoảng tháng 5, tháng 6 âm lịch) và vụ mùa (thu hoạch vào tháng 8, tháng 9 âm lịch). Song, để cây lúa mang thể sinh trưởng, phát triển cần buộc phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau. Trước tiên, người nông dân cần sắm được giống lúa thích hợp sở hữu điều kiện khí hậu, đất đai nơi gieo trồng cây lúa.

Sau khi đã chọn được giống lúa phù hợp, người nông dân sẽ tiến hành ủ giống, đến lúc những hạt lúa giống nảy mầm, người ta sẽ gieo chúng xuống đất, chăm sóc nó đến lúc những mầm xanh nhú lên, những cây mạ xanh ra đời. Trong lúc chờ mạ lớn và cứng cáp hơn, người ta sẽ cày, bừa đất, chờ đến khi cây mạ cứng cáp rồi sẽ đem cấy xuống ruộng.

Những ruộng lúa lúc vừa cấy xuống khoác lên mình một màu áo xanh mơn mởn. Để rồi, đến lúc thì còn gái, cánh đồng lúa trở mình, mặc một chiếc áo xanh sẫm và bắt đầu hình thành bông, những bông lúa bên trong mang dòng sữa trắng ngần, ngọt ngào và thơm phức tỏa ngát cả vùng quê.

Sau một thời gian, lúc lúa ngả sang màu vàng, những bông lúa đã chín, người ta gặt nó mang về nhà rồi tuốt lúa, phơi và xát lúa để tạo nên những hạt gạo. Tuy nhiên, trong quãng thời gian từ lúc cấy lúa đến lúc thu hoạch, những con người nơi đây phải thường xuyên thăm đồng, bắt sâu, bón phân, cung cấp thêm nước để cây lúa có đủ điều kiện tốt nhất để phát triển. Quả thực, quá trình phát triển cây lúa rất phức tạp, bởi vậy đòi hỏi ở người gieo trồng rất nhiều công sức và phải chăng vì thế, nhân dân ta xưa nay vẫn thường có câu:

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần (Ca dao)

Thêm vào đó, cây lúa giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của con người Việt Nam từ xưa đến nay. Từ thời xa xưa, Lang Liêu đã lấy gạo làm bánh kính dâng lên vua cha. Và cũng kể từ đấy, cây lúa đã trở thành một nét đẹp, một biểu tượng của nền văn hóa dân tộc. Trong đời sống của chúng ta ngày nay, cây lúa vẫn luôn giữ một vai tò đặc biệt quan trọng. Hạt lúa chính là nguồn lương thực chủ yếu cho chúng ta mỗi ngày.

Những hạt lúa, hạt gạo ấy chính là “hạt ngọc trời”. Gạo không chỉ dùng làm lương thực chính mỗi ngày mà nó còn là nguồn nguyên liệu làm nên nhiều thứ bánh khác nhau là đặc sản của mỗi miền, đó là bánh đa, là bánh tẻ, là bánh cuốn,… Không chỉ có hạt gạo, thân cây lúa sau khi gặt và phơi khô được gọi là rơm, nó là nguồn thức ăn cho gia súc trong nhà, đồng thời, nó là những “chiếc nệm” giữ ấm cho gia súc trong những ngày mùa đông giá rét.

Đặc biệt, với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, hiện nay nước ta đã lai tạo được hơn 30 giống lúa khác nhau và nước ta là một trong số những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu lúa gạo. Điều đó thêm một lần nữa chứng minh cho chúng ta thấy vai trò, vị trí to lớn của cây lúa trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 3

Việt Nam được thế giới biết đến là một đất nước với một nền nông nghiệp lâu đời, phát triển từ rất sớm. Do vậy, từ lâu cây lúa đã xuất hiện và trở thành lương thực chính trong đời sống của người Việt.

Cây lúa có mặt ở Việt Nam và trên thế giới từ bao giờ vẫn còn là một câu hỏi lớn. Không ai biết được chính xác, cụ thể thời gian và không gian. Có lẽ chúng xuất hiện cùng với những ngày đầu con người biết đến trồng trọt.

Lúa là 1 trong số cây lương thực chính của Việt Nam nhắc riêng và châu Á nói chung. Trên chặng hành trình trải dài từ miền Bắc vào đến trong Nam, ko sở hữu nơi đâu là thiếu vắng hình ảnh những cánh đồng lúa mênh mông trải dài vô tận. Có rất đa dạng các dòng giống lúa khác nhau thích hợp mang đặc điểm khí hậu và địa hình của mỗi vùng miền như: Nếp 97, xi, quy… Tuy khác nhau về giống nhưng chúng đều mang chung đặc điểm. Lúa thuộc họ cây thân mềm, rễ chùm, dài. Thân lúa thường mọc thẳng. Lá lúa dài như lưỡi kiếm, mặt lá nhám. Khi còn non thì mang màu xanh mỡ màng, khi chín, lá lúa khoác trên mình dòng áo vàng óng ả, cùng với hương thơm ngạt ngào của bông lúa chín tạo buộc phải một nét vẽ thôn dã bình im tới lạ, sở hữu đậm hồn dân tộc. Bông lúa nằm phía ngọn cây, mọc thành từng chùm, sau sinh trưởng và thành hạt lúa. Hạt lúa được người nông dân xay xát và trở thành hạt gạo.

Cây lúa là chiếc cây chủ yếu sống dưới nước. Nếu thiếu nước, lúa ko thể lớn mạnh bình thường được. Quá trình sinh trưởng của lúa chia khiến 3 thời kỳ. Khi mới cấy, cây lúa còn là những cây mạ trưởng thành. Người dân cày tiến hành nhổ cấy trên các thửa ruộng. Những ngày đầu, lúa tăng trưởng với hơi chậm chắc vì còn chưa thân thuộc với môi trường sống. Thân cây khi ấy mảnh khảnh và yếu ớt, dài khoảng 20cm, mang 4, 5 loại lá nhỏ xanh non. Khoảng thời gian sau đó, áng chừng 1 tháng, lúa đã trưởng thành và được người dân yêu quý gọi có loại tên lúa đang trong thời con gái vì đây là giai đoạn mà cây lúa lớn mạnh nhất: Đẻ nhánh và làm đòng. Chiều cao của chúng hiện tại đã khoảng 50-60cm có phổ biến lá xanh đậm sắc, dài ấp ôm chặt lấy thân. Bên trong là các mẫu đòng trắng ngần, tinh khiết.

Cuối cộng là thời kỳ lúa trổ bông và làm mẩy. Đây là quá trình cây lúa vươn cao nhất, khoảng 80-100cm, thân cây cứng cáp. Mỗi cây lúa cho 1 bông, chừng 200 hạt, mỗi hạt là một bông hoa. Thời kỳ trổ bông, lúa giữ gìn từng cánh hoa, thơm phức rồi nhờ gió thụ phấn cho nhau. Khoảng 1 tuần sau, lúa khiến mẩy và chín dần. Những bông lúa trĩu nặng, vàng ươm dưới ánh mặt trời làm cho cánh đồng quê trở nên đẹp lung linh như dát vàng. Lúc đấy, lúa đã sẵn sàng chờ con người tới cắt với về.

Để trồng ra những hạt gạo trắng ngần, dẻo thơm, người nông dân luôn phải tần tảo một nắng, hai sương, không quản ngại khó nhọc, tỉ mỉ ở mỗi một công đoạn: Từ khi chọn giống lúa sao cho đạt tiêu chuẩn, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh, chuẩn bị đất: Dọn cỏ, trục bùn cho đến gieo mạ, bón phân, quản lý và điều chỉnh lượng nước cho thích hợp với từng giai đoạn phát triển của lúa, phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh hại. Khi lúa trổ bông rồi đến kỳ thu hoạch, người dân lại lam lũ ra đồng cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xát gạo. Chừng ấy công đoạn, chừng ấy nỗi vất vả, tảo tần, kể làm sao cho hết!

Lúa tuy nhỏ bé nhưng có rất nhiều công dụng. Hạt gạo được coi là nguồn lương thực chính của người nông dân, một thứ không thể thiếu trong mâm cơm mỗi gia đình Việt, từ giản đơn đến sang trọng. Thân lúa ngày xưa thường được phơi cho khô để lợp nhà, bện chổi, làm chất đốt. Rơm còn là thức ăn chính của trâu, bò trong những ngày mùa đông giá rét. Người ta đôi khi còn dùng thân cây để ủ phân, cấy nấm. Hạt gạo qua chế biến còn trở thành những món ăn ngon lạ miệng. Hạt nếp xay thành bột để làm nên những loại bánh thơm ngon, hấp dẫn như bánh trôi, bánh tét, bánh giò…Bột gạo còn làm thành bánh phở, mỳ chũ. Nếp non làm nên thứ cốm dẻo thơm phảng phất dư vị nồng nàn của Hà Nội xưa cũ. Bên cạnh đó, việc xuất khẩu lúa gạo ra thị trường quốc tế giúp làm tăng thu nhập của nền kinh tế quốc dân. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành đất nước xuất khẩu gạo lớn, đứng thứ 2 trên toàn thế giới, chỉ sau Thái Lan.

Người dân ta vẫn thường nói với nhau rằng: “Hạt lúa là hạt vàng”. Cây lúa không chỉ là nguồn lương thực nuôi sống con người mỗi ngày mà còn in dấu vẻ đẹp bình dị của hồn quê, vẻ đẹp tảo tần của con người, góp phần làm giàu đẹp cho quê hương Việt Nam yêu dấu.

thuyết minh về cây lúa
thuyết minh về cây lúa

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 4

Mỗi một đất nước, một dân tộc, một mảnh đất có những loại cây riêng với quê hương mình. Và ở nước ta cây lúa mộc mạc, bình dị đã trở thành cây nông nghiệp gần gũi, gắn bó nhất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Cây lúa ấy đã trở thành nguồn cảm hứng của biết bao nhà văn, nhà thơ khi viết về vẻ đẹp quê hương.

“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều.”

Cây lúa thuộc dòng cây rễ chùm, ưa nước. Cây lúa lớn mạnh qua từng thời kì khác nhau, trải qua công đoạn chăm sóc, tưới tiêu vất vả, cần mẫn của người dân cày mới cho các bông lúa uốn câu vàng óng. Cây lúa khi còn ở thời gian con gái trông duyên dáng như một thiếu nữ yêu kiều thướt tha trong bộ cánh xanh non mỡ màng. Lá lúa dài như các lưỡi kiếm, hiếm sở hữu làn gió thổi qua như các chiến binh đang múa kiếm nghe thật vui tai.

Thân lúa mảnh, nhỏ, gồm rộng rãi lớp vỏ không tính dày bọc lấy nhau, như những cánh tay đang ôm ấp để bảo vệ bên trong. Cây lúa khi chín với trên mình bộ cánh mới, không còn là màu xanh mỡ màng, trẻ trung đầy nhựa sống nữa mà là màu vàng óng, ngây xỉu thơm mùi sữa non. Cây lúa luôn với trên mình mùi hương cực kỳ đặc biệt, đấy là mùi của đất quê, của hồn quê mộc mạc, thân thương, của những tấm lòng cần mẫn, chịu thương chịu khó, lòng vòng năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời.

Hạt lúa khi chín được bọc bên ngoài là lớp vỏ trấu màu vàng, bên trong là hạt gạo tròn, chắc mẩy bụ bẫm trông đến là thích mắt. Hạt gạo trắng ngần đó là tinh hoa của mồ hôi, công sức nước mắt người dân cần lao tụ lại để dâng lên hương trời. Vậy cần hương lúa khi nào cũng thế, mang mùi thơm ngát, siêu ngậy, rất thơm.

Có đa dạng loại lúa khác nhau, ưng ý với từng vùng miền, khí hậu riêng. Các dòng thóc thường nhiều là thóc nếp, thóc BC, thóc Việt Hương, thóc Tạp Giao, thóc Tám…Mỗi loài với những phương pháp chăm chút khác nhau, tưới tiêu và công dụng khác nhau, nhưng tựu chung lại đều vô cùng bổ ích và là một nguồn lương thực không thể thiếu mang người nông dân.

Cây lúa sở hữu vô cùng rộng rãi công dụng. Trước hết nó là cây lương thực chính của nước ta, đồng thời cũng là thương hiệu, đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thiết bị 2 thế giới. Hơn nữa, những bí quyết chế biến khác nhau đem đến cho cây lúa rất nhiều tiện dụng khác nhau. Hạt gạo trắng ngần là nguyên liệu để khiến cho các sợi phở, bún, các chiếc bánh đa. Những loại cơm gạo, cơm cháy ruốc, bánh gạo, nước gạo vô cùng rẻ cho sức khỏe.

Cây lúa cũng chính là nguyên liệu chính làm nên món bánh chưng bánh giầy-món ăn truyền thống trong mỗi dịp lễ, tết ở Việt Nam ta. Hay một thứ quà của lúa non đó là cốm đã được nhà văn Thạch Lam đưa vào trang văn của mình đầy trân trọng, tự hào.

Nhưng để có được hạt gạo trắng ngần, cây lúa phải phát triển khỏe mạnh, vì thế đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mẩn, cẩn trọng của người nông dân. Đặc biệt là việc tưới tiêu, vì là một loại cây ưa nước nên việc cung cấp đủ nước cho cây là rất quan trọng, ngoài ra người nông dân cũng liên tục phải quan sát trên cây lúa xem có những dấu hiệu bất thường nào khác để kịp thời tưới phân, chăm bón đúng lúc. Để làm ra hạt gạo nuôi sống con người không phải là điều gì dễ dàng, vì thế hạt gạo càng cần được trân trọng hơn bao giờ hết.

Cây lúa thật đẹp, một nét đẹp mộc mạc tinh túy của người dân đất Việt. Cây lúa đã trưởng thành, phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trải qua biết bao cuộc đấu tranh gian khổ, cây lúa đã gắn liền với sự hi sinh chiến đấu, là lương thực giúp các anh đỡ đói lòng để vững tay súng. Có lẽ, dù trong chặng đường tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa của dân tộc bây giờ và mai sau có phát triển chăng nữa, cây lúa cũng sẽ không bao giờ mất đi vai trò quan trọng của mình.

XEM THÊM: 1987 mệnh gì? [Hợp Tuổi gì] [Hợp màu gì] [Hợp hướng nào]

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 5

Nhắc tới Việt Nam, người ta thường nghĩ tới những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, hồ Hoàn Kiếm với truyền thuyết trả gươm thần hay những món hàng đặc trưng như lụa tơ tằm, nón Bài thơ. Nhưng đặc biệt, điều mà du khách nước ngoài tới Việt Nam cảm thấy thú vị hơn cả là thú vui ẩm thực: phở, bún chả, hay bánh chưng, bánh giầy vào dịp Tết. Dễ dàng nhận ra rằng những món ăn đó được làm từ gạo. Thứ hạt trắng đó là sản phẩm của cây lúa – một loại cây không thể thiếu trong đời sống con người Việt Nam.

Để mang được cây lúa, những người dân cày đã nặng nhọc cần lao từng ngày: từ gieo mạ, cấy mạ rồi chăm sóc, vun xới cho cây. Lúa được trồng ở những vùng đồng bằng châu thổ, nơi sở hữu phù sa bồi đắp. Cũng như đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long là 1 vựa lúa lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, ko chỉ mang ở đồng bằng, cây lúa còn được trồng trên vùng cao có những ruộng bậc thang xanh mướt.

Lúa thích nghi đặc thù với khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam theo hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Phần to các người nông dân còn phụ thuộc vào cây lúa. Đây là 1 hình thức cung ứng nông nghiệp nhiều và dễ thấy ở Việt Nam. Cây lúa đã đưa Việt Nam từ nước đói kém sau chiến tranh thành 1 nhà nước xuất khẩu lúa gạo đứng trang bị hai trên thế giới. Mặc dù là cây nông nghiệp nhưng không thể thiếu các cây đấy trong đời sống người Việt Nam.

Câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao cây lúa lại với 1 vai trò quan yếu trong đời sống Việt Nam đến như vậy? Có thể thấy rằng, từ lúc sinh ra, con người đã gắn bó có cây lúa và hạt gạo. Cây lúa ko những là cây nông nghiệp mà còn là 1 chiếc cây lương thực cung cấp thực phẩm chủ yếu cho con người. Đôi lúc người ta thấy rằng con người ăn cơm lâu, muốn đổi thay hương vị, đã sắm tới các quán phở, hàng bún. Đó là 1 cách đổi thay khẩu vị hay đúng hơn là gạo đã được biến tấu bằng 1 bí quyết chế biến khác.

Hay ở các vùng thôn quê, thậm chí là ở thành thị, người ta vẫn thường quen với tiếng rao quà: Ai bánh chưng, bánh nếp, bánh giầy, bánh khoai nào! Thật thân thuộc mà cũng vô cùng giản dị. Những vật dụng bánh thơm dẻo đó cũng được làm ra từ hạt gạo. Đặc biệt hơn là gạo nếp. Lúa khiến ra gạo. Cũng thật độc đáo, gạo lại được chế biến thành muôn kiểu món ăn, chuyên dụng cho cho nhu cầu ăn uống của người dân Việt Nam.

Chúng ta biết rằng, khi lúa chín trĩu bông, người ta gặt về, đem tuốt lúa. Và sau ấy mang được gạo và 1 thứ vỏ ngoại trừ màu vàng nhạt. Đó chính là vỏ trấu. Bước chân đi tới các miền quê Việt Nam hiện tại vẫn còn thấy các gian bếp nhỏ đun vỏ trấu, vỏ trấu cũng siêu hữu dụng trong việc khiến thức ăn cho gia cầm và dùng trong lò ấp trứng.

Phần cây lúa sau khi đã gặt xong không cần là thừa. Nó được phơi khô, chất thành các đống rơm cao ngất. Rơm cũng được tiêu dùng khiến cho chất đốt ở các vùng nông thôn. Ngoài ra, rơm còn được sử dụng để trồng nấm khiến thực phẩm cho người dân Việt Nam. Đặc biệt, người ta còn tiêu dùng rơm để lợp mái nhà, cực kỳ lợi ích và tiết kiệm.

Như vậy, cây lúa đã trở thành một loại cây gắn bó thân thiết với người dân Việt Nam: trong lao động sản xuất, trong đời sống, nhất là những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Không những vậy, cây lúa còn mang một giá trị văn hoá tinh thần sâu sắc.

Giữ một vị trí quan trọng như vậy nên khi nhắc tới Việt Nam, người ta nhắc tới một nền văn minh lúa nước. Cây lúa đã đi vào lịch sử dân tộc của Việt Nam, trở thành một đặc trưng cho văn hoá Việt. Một nét đặc trưng mà có lẽ khó có thể mất đi hay phai mờ. Cây lúa đã đứng lên, đã hội nhập quốc tế bằng chính chất và lượng của nó. Người ta đã biết tới một Việt Nam không chỉ là một nước anh dũng kiên cường trong đấu tranh mà còn là một dân tộc kiên trì cần mẫn trong lao động sản xuất. Và giờ đây họ nhìn vào con số gạo xuất khẩu: hàng triệu tấn một năm của Việt Nam để đánh giá và đưa ra nhận xét.

Không những thế, cây lúa còn giữ một vai trò không thể thiếu trong những lễ vật dâng lên tổ tiên. Những món ăn thơm thảo đó thể hiện rất rõ nét ẩm thực cũng như tính cách của người Việt. Nó thể hiện sự hiếu lễ kính trọng của con cháu đối với những người đi trước. Đặc biệt là trong những dịp Tết Nguyên Đán, những chiếc bánh chưng, bánh giầy không bao giờ thiếu trong mâm cỗ của từng nhà. Trung thu với bánh dẻo, bánh nướng làm cho đêm đón trăng của trẻ em càng thêm rộn ràng… Từ cây lúa, những thức quà ngon đã được làm ra ngày càng gắn bó, thân thiết với người dân Việt Nam.

Cây lúa là biểu tượng Việt Nam, là loại cây không thể thiếu trong đời sống văn hoá Việt, cả ẩm thực và lễ hội. Có lẽ vì vậy, cây lúa cũng đã trở thành đề tài sáng tác cho nhiều nhà thơ, nhà văn. Trần Đăng Khoa đã có một bài thơ được phổ nhạc thành bài hát (Hạt gạo làng ta):

“Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi hôm nay”…

Trần Đăng Khoa đã rất tinh tế khi viết về hạt gạo trắng thơm. Để có lúa, có gạo là công sức của biết bao con người, là sự hòa quyện của biết bao hương vị: vị phù sa, hương sen thơm, lời mẹ hát. Những lời ca trong trẻo của bài hát ấy cứ ngân lên, thể hiện tính cách của con người Việt Nam: tuy sống vất vả nhưng cần mẫn với lúa gạo.

Và hơn thế, cây lúa còn làm tăng vẻ đẹp quê hương đất nước:

“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông.”
(ca dao)

Câu ca dao đã khắc hoạ một Việt Nam tươi đẹp và đầy sức sống với màu xanh mênh mông bát ngát của lúa. Những đồng lúa thẳng cánh cò bay đã in sâu trong tâm trí của những người con xa quê. Cây lúa vốn đã thân thiết nay càng gắn bó hơn. Có thể nói rằng nó không thể thiếu trong đời sống con người Việt Nam, cả về vật chất cũng như tinh thần.

Nó làm con người thoải mái và vui vẻ hơn sau ngày lao động mệt nhọc với bát cơm thơm thảo. Mỗi khi bưng bát cơm thơm, được nấu từ những hạt gạo trắng ngần, lòng ta lại bâng khuâng nghĩ đến quê hương, nghĩ đến những con người đã từng đổ mồ hôi, sôi nước mắt để làm ra hạt gạo.

Nếu được chọn lựa, có lẽ tất cả chúng ta sẽ vẫn chọn cây lúa là cây lương thực chính, là biểu tượng của nền văn minh, văn hoá cho vẻ đẹp Việt Nam.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 6

“Hạt gạo làng ta
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy”
(Trích “Hạt gạo làng ta” – Trần Đăng Khoa)

Chắc hẳn mỗi chúng ta, ai cũng có một tuổi thơ êm đềm gắn bó với mái đình, cây đa, bến nước và đặc biệt là triền đê lộng gió bên cánh đồng thẳng cánh cò bay. Cây lúa không chỉ là thứ hạt vàng, hạt ngọc của đất trời đem lại sự sống cho chúng ta mà từ khi nào đã đi vào cả trong nỗi nhớ niềm thương của mỗi người con đất Việt.

Đã bao giờ bưng bát cơm thơm dẻo trên tay, ta tự hỏi cây lúa có từ bao giờ? Phải chăng cây lúa có từ “ ngày xửa ngày xưa”, khi những câu ca bắt lên khắp các nẻo đường rộn rã của những bà, những chị đi thăm đồng? Hay phải chăng cây lúa hoài thai từ thuở hồng hoang dựng nước, khi Lang Liêu biết trồng lúa để làm những bánh vuông tròn mà cúng Tiên vương?

Thật khó mà nói được cái nguồn gốc xuất phát của thứ cây dẻo dai mà kiên cường ấy! Chỉ biết rằng, cây lúa hay nghề trồng lúa đã có ở nước ta từ rất lâu đời. Giống như một giá trị trường tồn vĩnh cửu, bốn ngàn năm lịch sử đã qua đi, đất nước từng ngày thay đổi với những diện mạo mới, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với nghề trồng lúa nước, là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.

Khắp các làng quê Việt nam, đi đâu ta cũng thấy cánh đồng thẳng cánh với những cây lúa xanh rì trĩu bông. Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất nước ta. Lúa nước không chỉ là một nghề giúp người nông dân của ta kiếm sống mà còn làm nên một nền văn hóa của những vùng đất phù sa xứ sở.

Một năm có hai vụ lúa chính: Vụ chiêm và vụ mùa. Người nông dân chọn hạt giống, ngâm thóc giống, nâng niu đến khi đưa những mầm non mới nhú ấy xuống mặt đất, rồi dày công chăm sóc, chăm đồng thăm ruộng, nâng niu chăm sóc như người mẹ chăm con. Phải trải qua cả một quá trình như thế, mới có những cây lúa trĩu bông. Cũng giống như nhiều loại cây khác, lúa nước cũng có nhiều giống lúa như: lúa móng chim, lúa di hương, lúa ba giăng, lúa gié, lúa mộc tuyền,…

Nhưng quý nhất vẫn là cây lúa tám xoan, lúa dự, cho những hạt gạo trắng như hạt ngọc trời, ăn dẻo và thơm. Lúa nếp cũng có nhiều loại: nếp cái hoa vàng, thường được các bà các mẹ chọn để đồ xôi, cất rượu; rồi nếp rồng, nếp nàng tiên, nếp mỡ… Con trâu, cây lúa, cánh đồng từ bao giờ đã trở thành người bạn của nhà nông. Chẳng phải vì thế mà ta vẫn thường nghe những câu hát:

“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.”
(ca dao)

Trồng lúa là nghề căn bản của nhà nông. Người nông dân quanh năm dầm sương dãi nắng, cần cù ngày này qua tháng nọ bám lấy ruộng đồng: cày bừa, cấy hái, tát nước, bón phân, làm cỏ, bắt sâu,…Với người dân cày, cánh đồng mảnh ruộng là món gia tài nhỏ nhỏ cả một đời vun vén.

Miền Nam thường sạ lúa thì người miền Bắc kì công lại gieo mạ và cấy lúa. Khi vụ mùa vừa kết thúc, vào tiết lập xuân, người nông dân tiến hành chọn hạt giống, ngâm thóc giống rồi quăng bùn gieo mạ. Khi cây mạ non cao chừng mười phân và thời tiết thuận lợi, người nông dân sẽ đem mạ ấy cấy xuống đồng ruộng đã được cày xới tơi xốp. Công việc giản dị ấy đã đi vào lời một bài hát ru của tuổi thơ như thế:

“Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.”
(Trích “Bầm ơi!” – Tố Hữu)

Lúa thì con gái xanh ngắt một màu. Những cơn mưa rào cuối xuân đầu hè được gọi là cơn mưa vàng, làm cho đồng lúa tốt bời bời:

Lúa chiêm đứng nép đầu bờ
Nghe ba tiếng sấm phất cờ mà lên.
(ca dao)

Lúa đứng cây rồi lúa có đòng đòng. Lúa trổ bông tỏa hương thơm thoang thoảng. Hoa lúa màu trắng nõn. Rồi lúa ngậm sữa, lúa uốn câu. Chừng độ nửa tháng sáng, đồng lúa ửng vàng rồi chín rộ. Cả cánh đồng lúa mênh mông như một tấm thảm nhung màu vàng khổng lồ.

Đường quê thôn xóm thêm nhộn nhịp. Người ta đi hái lúa, tuốt lúa rồi đem phơi. Những khoảng sân nhà đầy ăm ắp những thóc, những rơm. Nắng vàng, rơm vàng, màu thóc vàng,… tất cả như tô điểm cho những thôn xóm những chiếc áo rực rỡ sắc màu của niềm vui và sự sung túc đủ đầy!

Cây lúa thật quý giá vô cùng! Hạt thóc người ta đem xay ra hạt gạo trắng ngần. Lớp vỏ bị tróc ra thường được gọi là trấu, dùng để nhóm lửa hoặc ủ phân cho cây trái trong vườn. Giữa lớp vỏ trấu ấy và hạt gạo trắng nõn ngọt lành là một lớp vỏ dinh dưỡng, khi xát lúa người ta thu được gọi là cám, dùng trong chăn nuôi rất thuận lợi. Đến phần thân cây lúa khi gặt về, cũng được đem ra phơi nắng thành rơm thành rạ để nhóm bếp. Những bông lúa nếp sau khi tuốt hạt thì được chọn lọc kĩ càng và dùng để làm chổi.

Hạt lúa là hạt vàng, Hạt gạo là hạt ngọc. Từ hạt gạo có thể chế biến được nhiều món ăn. Gạo xay giã thành bột để làm bánh, làm bánh đúc, bánh cuốn, bánh đa:

Bánh đúc thiếp đổ ra sàng
Thuận thiếp thiếp bán, thuận chàng chàng mua
(ca dao)

Bánh chưng, bánh dày, bánh ú, bánh gai, bánh xèo. Hàng trăm thứ bánh, hàng trăm thức quà đều làm từ hạt gạo dẻo thơm. Ngoài ra hạt gạo ở một số vùng qua còn được dùng để làm những thức quà riêng đặc sản của vùng miền như cốm làng Vòng.

Nâng bông lúa trên tay, ta càng thêm mến yêu mến và trân trọng! Màu xanh của lá lúa là màu xanh của sự sống, là sự trường tồn mãi mãi như câu ca dao xưa:

“Khi nào cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.” (ca dao)

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 7

Trên triền đê dài miên man, lộng gió của cánh đồng quê nội, tôi chậm rãi ghé sát mình vào một mảnh ruộng để cảm nhận hương thơm dịu ngọt của đất. Văng vẳng bên tai tôi lời nói nhè nhẹ của chị lúa: “Chào bạn! Bạn có biết về cuộc đời họ lúa nước mình không? Mình giới thiệu với bạn này”.

Giọng lúa như tâm tình, thủ thỉ. Tổ tiên của mình bắt nguồn từ xa xưa, được con người phát hiện và thuần chủng buộc phải vươn lên là cây lúa giống ngày bữa nay đấy. Họ hàng mình đông vui lắm nào là BC, bắc thơm, nếp cẩm, nếp loại nữa… Giống lúa Mộc Tuyền ngày trước phổ biến lắm, bạn biết không cây lúa trưởng thành cao gần bằng đầu người đó. Hạt lúa thơm ngon nhưng chưa mang đến năng suất cao do đó ko được bà con nông dân canh tác.

Chúng mình là các giống lúa mới được nhà khoa học Lương Đình Của nghiên cứu lai tạo làm nâng cao thêm sức kháng thể và có lại năng suất cao hơn, chất lượng cũng được nâng lên. Bạn thấy không, chúng mình thuộc thân cỏ khá mềm yếu, buộc phải toàn bộ người kết đoàn sống gần nhau, nương tựa vào nhau để gió không dễ dàng quật đổ.

Lúa nước chúng mình thuộc cái rễ chùm nên đứng hơi vững trên mảnh ruộng màu mỡ. Một cây lúa trưởng thành cao khoảng 70- 80 cm và mang hệ rễ có tổng chiều dài sắp 625 km. Những cánh lá của mình dài, có lớp lông phủ trên bề mặt như các lưỡi gươm khua trong gió vậy.

Mình kể bạn nghe về cuộc đời mình nhé. Ở miền Bắc theo thời tiết,các bác bỏ nông dân trồng chúng mình theo hai vụ: chiêm và mùa. Vụ chiêm bắt đầu từ tháng giêng tới tháng sáu, còn vụ mùa từ tháng bảy đến tháng mười một. Tháng còn lại ruộng được cày ải và nghỉ ngơi để tiếp nối thời vụ năm sau. Khi mình còn là hạt thóc mẩy, căng tròn, người dân cày gieo chúng mình trên lớp bùn phì nhiêu, được che khum, chế tạo hầu hết chất dinh dưỡng, từng mầm lá nảy lên biếc rờn.

Lúc đó mình được gọi là mạ. Mạ đem ra ruộng cấy thì mình tên là lúa đó. Sống trong không gian khoáng đạt hơn, như bạn biết đấy, nghề nông phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Như dân gian thường nói:

Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Nghe ba tiếng sấm phất cờ mà lên

Mình nghe chị gió tâm tình, thấy họ hàng lúa nước còn thích nghi với điều kiện khắc nghiệt của ruộng bậc thang, còn dọc dải đất miền Trung có khi mưa bão, bà con bị mất trắng. Bạn biết không, chỉ sau một tháng trên ruộng, lúa chúng mình đang độ thì con gái. Cả cánh đồng lúc ấy căng tràn sức sống, mơn mởn, đó là giai đoạn chúng mình trưởng thành. Lúc này các bác nông dân bón một số loại phân bón như NPK, Kali…

Cụm rễ làm việc siêng năng, bấu vào đất mà hút chất dưỡng chất chuẩn bị cho lúa trổ đòng. Những bông lúa trĩu nặng hạt tròn mẩy khiến thân lúa mình uốn cong. Suốt hai thời vụ, người nông dân thường xuyên ra thăm ruộng để kịp thời ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm như bạc lá hay khô vằn. Công việc nặng nhọc, vất vả bởi các bác thường dọn cỏ, bắt sâu trên lá. Thật đúng là:

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Hạt thóc của chúng mình khi vàng ươm được máy gặt về. Những bó lúa đầy hạt là thành quả cho cả quá trình lao động miệt mài của người lao động. Sau khi lúa gặt về, chỉ còn lại trên cánh đồng những gốc rạ khẳng khiu. Cả cuộc đời mình gắn bó với người nông dân như thế đấy.

Mình đang sống và cống hiến sức mình cho cuộc đời, bạn ạ. Nhờ có hạt thóc nhỏ giúp nước ta trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu lúa gạo trên thị trường quốc tế. Hạt ngọc thực làm cuộc sống dân ta trở nên no đủ hơn. Nhìn những cô cậu học trò khôn lớn mình cũng thấy phần nào tự hào về đóng góp của mình.

Mặt trời ngả bóng về phía tây, tôi tạm biệt các bạn lúa. Đi trên triền đê lộng gió trở về làng, tôi phóng tầm nhìn rộng hơn, cả cánh đồng vẫn dập dờn trong gió, ghé đầu vào nhau trò chuyện. Qua câu chuyện ngắn ngủi của lúa giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về cây lương thực này.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 8

“Trời cao đất rộng thênh thang
Tiếng hò giọng hát ngân vang trên đồng
Cá tươi gạo trắng nước trong
Hai mùa lúa chín thơm nồng tình quê.”

Những câu thơ trên hàm ý muốn nhắn nhủ cho mỗi chúng ta về tinh yêu quê hương với những cánh đồng lúa bát ngát, mênh mang với hương lúa nồng nàn tình người, tình quê. Cây lúa là một trong những biểu tượng của quê hương Việt Nam, chính vì vậy mỗi người con Việt Nam khi xa quê đều nhớ về quê hương với cánh đồng lúa bao la, bát ngát mênh mông. Cây lúa vừa mang tính biểu tượng, bên cạnh đó nó cũng là nguồn lương thực chính của Việt Nam và hầu hết các nước châu Á.

Cây lúa và hình ảnh con trâu đi trước chiếc cày đi sau đã là một hình ảnh bình dị, gần gũi quen thuộc và đi vào tiềm thức con người Việt Nam. Cây lúa đã gắn bó mang người nông dân chân lấm tay bùn Việt Nam qua hàng bao đời nay. Là 1 nước nông nghiệp chính vì vậy lúa là mẫu cây lương thực chính sở hữu số lượng to ở Việt Nam.

Ở châu Á thì lúa được coi là cây lương thực chính trong năm loại cây lương thực: ngô, lúa mì, sắn, khoai tây và là nguồn lương thực quan yếu cho tất cả những nước châu Á và trong đó sở hữu Việt Nam lúa là cây trồng nông nghiệp gắn bó có người dân cày Việt Nam bao đời nay bắt buộc lúa là cây trồng nông nghiệp chủ yếu và là cây trồng mang đến nguồn thu nhập kinh tế chính cho người nông dân. Lúa được xếp vào loại cây ngũ cốc.

Lúa là thực vật được xếp vào các loài cỏ đã thuần hoá do vậy lúa có thân mềm, lá lúa dài mềm, thon nhọn về phía đầu lá, cây lúa thường mang hình trạng nhỏ và cao khoảng 50cm. Để tạo ra các hạt gạo trắng ngần bắt buộc sự đòi hỏi chăm sóc, tưới tiêu vô cùng chu đáo của người nông dân. Lúa là chiếc cây mang thời gian sinh trưởng ngắn buộc phải cây lúa có bộ rễ chùm. Lúa là mẫu cây nhuyễn thể phải được người dân cày trồng sát nhau xếp thành từng hàng, từng lối thẳng hàng.

Người nông dân thường trồng lúa thẳng hàng, thành từng cụm để thuận tiện chăm sóc, tưới tiêu vừa tạo vẻ đẹp bình dị, cần thơ cho cánh đồng lúa và lúc những làn gió khẽ lướt qua khiến các cây lúa rung rinh, chuyển động, xô nhau theo làn gió tạo cần các làn sóng nhỏ đuổi nhau, sườn cảnh đấy đẹp bình dị và thơ mộng biết bao, nó khiến tâm hồn ta vươn lên là trong trẻo và trong sáng hơn.

Cây lúa sở hữu hai màu lá xanh và vàng. Tùy vào từng quá trình sinh trưởng mà cây lúa mang màu khác nhau. Khi mới trồng và trong quá trình tăng trưởng lúa mang màu xanh và khi lúa chín cây lúa tự chuyển sang màu vàng. Đặc biệt trong giai đoạn lúa chín, các bông lúa sẽ tỏa ra hương thơm cực kỳ đặc biệt, đó là hương thơm siêu khó để sở hữu thể biểu lộ được, bắt buộc tự bản thân mình tận hưởng mùi hương đó mới với thể thấy hết sự trong trẻo nồng nàn trong hương thơm ấy.

Hạt thóc sau lúc được thu hoạch sẽ được phơi khô rồi với đi xát vỏ bên cạnh sẽ thu được hạt gạo và những phụ phẩm là cám và trấu. Tuy chỉ là các phụ phẩm nhưng trấu cũng có những công dụng của nó như để lót chuồng ủ làm phân, làm cho đất trồng cây. Còn cám sẽ được người dân tận dụng khiến cho thức ăn cho gia súc, gia cầm.

Để trồng được một cây lúa cho ra những hạt thóc chắc mẩy ta cần chọn những hạt thóc chắc mẩy không sâu bệnh để làm giống. Rồi lấy những hạt thóc đó gieo xuống vùng đất thích hợp, để một thời gian chờ những hạt thóc đó lên mầm phát triển thành mạ. Khi chúng lên mạ, những cây lúa con (mạ) sẽ được người dân mang ra đồng cấy, chăm bón để trở thành những cây lúa trưởng thành. Trong giai đoạn này yêu cầu người dân chăm sóc cây kỹ lưỡng và chế độ nước tưới tiêu và phân bón hợp lý sau khoảng thời gian cần thiết lúa sẽ trổ bông và chín.

Lúa là loại cây trồng gắn bó với mỗi người nông dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử bởi lúa có những công dụng thiết thực trong cuộc sống. Trước hết cây lúa sản sinh ra những hạt gạo nguồn lương thực chính trong mỗi bữa ăn hằng ngày của mỗi chúng ta. Gạo còn là một trong những loại lương thực xuất khẩu ra nước ngoài, đem lại lợi ích kinh tế cho đất nước.

Với những lợi ích kinh tế của việc trồng lúa dần dần trồng lúa trở thành một nghề chính gia tăng kinh tế trong từng hộ gia đình. Gạo không chỉ nấu lên thành cơm, mà ngày nay gạo còn biến thành các món ăn khác nhau. Với những lợi ích công dụng của mình, cây lúa dần dần trở thành cây trồng chính trong các loại cây nông nghiệp ở Việt Nam.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 9

“Tôi hát bài ca ngợi ca cây lúa và người trồng lúa cho quê hương. Quê hương ơi, có gì đẹp hơn thế, đồng lúa hẹn hò những mùa gặt. Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt, ngày mai bắt đầu từ hôm nay”. Bao đời nay vẫn thế, cánh đồng lúa xanh bất tận, cánh cò trắng phau phau cùng với con trâu, lũy tre làng xanh ngắt đã trở thành hình ảnh quen thuộc, là biểu tượng của nông thôn Việt Nam, thậm chí đó chính là hình ảnh đại diện cho cả một đất nước với những người con anh hùng.

Có thể nhắc rằng cây lúa Việt Nam đã đóng góp 1 vai trò vô cộng lớn lớn, ko chỉ trong đời sống vật chất mà còn là đời sống ý thức của quần chúng. # ta ngay từ thuở những vua Hùng dựng nước, mà cho tới tận ngày bữa nay những giá trị đấy vẫn còn nguyên vẹn không hề suy chuyển.

Lúa vốn là một loài cây hoang dã, tiên sư cha của nó là một loài cây dại thuộc chi Oryza trên vô cùng đất liền Gondwana phương pháp đây khoảng 130 triệu năm về trước, sau bởi vì quá trình phân tách đất liền mà loài này bị trôi dạt về những vùng đất khác nhau, công đoạn tiến hóa đã cho ra phổ biến giống lúa có đặc điểm riêng biệt.

Cây lúa Việt Nam, rộng rãi nhất chính là loài lúa nước, sở hữu khởi thủy từ Đông Nam Á, phương pháp đây khoảng 10000 năm nó đã được con người nơi đây thuần chủng và đem vào canh tác, trở thành nguồn lương thực chính cho nhiều quốc gia trên thế giới. Như vậy mang thể đề cập Việt Nam chính là 1 trong các loại nôi của nền văn minh lúa nước, đưa khu vực Đông Nam Á phát triển thành trung tâm nông nghiệp đầu tiên của thế giới loài người mang sự tăng trưởng mạnh mẽ của cây lúa tạo ra nguồn lương thực dồi dào.

Tên kỹ thuật của lúa nước là Oryza sativa thuộc họ Lúa (Poaceae), ở Việt Nam vẫn thường gọi đơn thuần là lúa hoặc lúa nước. Ở nước ta lúa nước phân bố cốt yếu ở hai đồng bằng rộng lớn nhất cả nước là Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long, ngoài ra còn được canh tác ở một số đồng bằng nhỏ hẹp trải dài vùng duyên hải miền trung, cá biệt ở những tỉnh giấc miền núi phía Bắc người ta còn cải tạo địa hình thành những ruộng bậc thang để canh tác loài lúa này.

Lúa nước sở hữu thể phân ra khiến 2 loại dựa vào hàm lượng amilopectin (thành phần quyết định tính dẻo) trong hạt gạo, lúa tẻ thì amilopectin chiếm khoảng 80%, trong lúa nếp thường cao hơn 90%, chính vì vậy gạo nếp ăn dẻo và dính hơn. Ngoài ra người ta trong công đoạn lai tạo, người ta còn dựa vào các đặc tính sinh học như hình dáng cây, hạt, hay khả năng chống chịu bệnh tật mà chia thành nhiều giống khác nhau.

Về ý nghĩa của cây lúa, chính yếu là xuất phát từ sự gắn bó lâu đời của nó sở hữu đời sống nhân dân, phát triển thành biểu tượng của nông thôn Việt Nam, kể tới cây lúa nước người ta thường liên can đến hình ảnh người nông dân có các đức tính phải chăng đẹp cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động, ko quản ngại mưa gió, song song nó cũng đại diện cho sự ấm no, cơm gạo đủ đầy.

Đôi lúc, cây lúa còn làm chúng ta can dự tới sự nghèo khó nặng nhọc trong cuộc sống của người nông dân. Không chỉ vậy cây lúa chính là đại diện cho nền văn minh lúa nước mang bề dày lịch sử của Việt Nam cũng như của cả Đông Nam Á. Trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hình ảnh cây lúa luôn gắn ngay tắp lự mang hình ảnh hậu phương vững chắc, đồng thời là biểu trưng công cuộc xây dựng giang san sau chiến tranh với mục đích lấy phát triển nông nghiệp khiến gốc của Đảng và nhà nước.

Chính bởi những ý nghĩa biểu tượng có giá trị sâu dung nhan như vậy bắt buộc cây lúa cũng thường vươn lên là đề tài chính trong các tác phẩm nghệ thuật và cả trong văn chương dân gian. Ví như bài hát nổi tiếng Hát về cây lúa bữa nay của nhạc sĩ Hoàng Vân là bài hát bất hủ ca tụng cây lúa, song song gián tiếp ca tụng bí quyết mạng, cổ vũ ý thức xây dựng sơn hà của dân chúng cả nước, hay bài thơ quen thuộc “Hạt gạo làng ta” của thi sĩ Trần Đăng Khoa có các vần thơ giàu ý nghĩa biểu tượng.

Về hình dáng, lúa là cây 1 lá mầm, rễ chùm, cao tầm 70- 90cm, thân cây dạng ống rỗng, phân khiến rộng rãi đốt như đốt tre, tương đối mềm dễ gãy và đổ rạp lúc tương tác ngoại lực. Lá mỏng, hẹp và dài tương đương mang thân cây, có màu xanh non, khi lúa chín thì dần chuyển sang màu vàng sẫm, chiếc màu mà Tô Hoài đã viết trong Quang cảnh làng mạc ngày mùa :“Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại”.

Bông lúa hay chùm quả của nó với màu xanh lá mạ dài tầm 35-50cm, sau khi tự thụ phấn thì phát triển thành quả, 1 thân lúa như vậy cũng phải mang tới hơn 20 chục chùm quả đong đưa, mùa lúa chín chùm quả nặng dần, hạt thóc vốn xanh và gạnh giờ đã chuyển vàng và căng đầy, chuẩn bị cho mùa thu hoạch. Hạt lúa hay còn gọi là hạt thóc, dài 5-12 mm và dày tầm 1-2mm. Lúa là loài cây thân thảo, tuổi thọ là 1 năm, ngoài ra để đáp ứng nhu cầu thu hoạch quãng đời của nó thường bị kết thúc vào mùa thu hoạch, khoảng 4-5 tháng.

Có đa dạng cách chia vụ tùy theo khí hậu và địa hình ở những nơi, lấy tỉ dụ về vựa lúa to nhất nước ta là đồng bằng Sông Cửu Long, một năm gồm sở hữu 3 vụ là vụ Hè Thu (tháng 4-8), vụ Đông Xuân (tháng 11-4), và vụ Mùa (tháng 5-11). Cách nhân giống đa dạng nhất đấy là gieo mạ, người ta đem những thóc giống đã ủ gieo lên luống mạ đã chuẩn bị sẵn, đợi cây mọc được 5-7 lá thì nhổ lên bó thành bó rồi đem ra ruộng cấy (mặt ruộng phải khô).

Sau lúc cây phát triển ổn định, mọc nhánh thì tiến hành dẫn nước vào ruộng, mực nước duy trì từ 1-3cm. Trước thời khắc thu hoạch khoảng 10 ngày thì phải toá cạn nước để mặt ruộng khô, cho dễ bề thu hoạch. Một vụ lúa như vậy chia ra khiến 4 đợt bón lót, tùy vào từng công đoạn mà sắm dòng phân bón thích hợp. Đặc biệt lúa là loài dễ bị bệnh và tốc độ lan truyền rất nhanh do trồng số lượng to và sát nhau, 1 số bệnh phải để ý là bệnh đạo ôn, vàng lùn xoắn lá, rầy nâu, 1 số nạn dịch châu chấu, cào cào, sâu cuốn lá và sâu đục thân.

Lúa gạo chính là nguồn lương thực chính của nhân dân ta, và cung ứng lương thực cho khoảng 65% dân số thế giới, đây là nguồn thực phẩm giàu tinh bột lúc đựng đến 80% tinh bột trong thành phần, là nguồn cung ứng năng lượng chính yếu cho thân thể con người. Ngoài việc trở nên cơm, khẩu phần chính trong bữa ăn, gạo còn là nguyên liệu để cung cấp ra rộng rãi loại thực phẩm khác như các chiếc bánh, bún, phở, hủ tiếu, mì gói,…

Trong nghề nấu rượu truyền thống gạo cũng chính là nguyên liệu chính để cho ra những giọt rượu thơm ngon chất lượng. Các sản phẩm phụ của lúa gạo như cám, trấu, tấm, rơm rạ cũng đóng góp không nhỏ vào các nền công nghiệp sản xuất, chăn nuôi khác. Trong kinh tế, gạo đã trở thành loại hàng hóa được xuất khẩu nhiều nhất nước ta, đứng thứ hai thế giới sau Thái Lan với kim ngạch khoảng 6 triệu tấn/năm, bên cạnh các mặt hàng khác như cà phê, trái cây,…đóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển của nền nông nghiệp và tổng GDP của cả nước.

Cây lúa đã mãi ăn sâu vào tiềm thức và cuộc sống con người Việt Nam với những giá trị to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần một cách sâu sắc. Giờ đây mỗi khi về thăm quê, tôi vẫn thường chú ý đến những cánh đồng lúa bát ngát, gió đưa thoang thoảng hương lúa, dù là 10 năm trước đây hay 10 năm sau nữa, có lẽ cái tôi ấn tượng và nhớ nhiều về quê hương nhất vẫn hình ảnh cây lúa, hình ảnh những người nông dân cặm cụi mùa gieo mạ, mùa gặt lúa, hình ảnh những con đường chất đầy rơm rạ, thóc lúa vương vãi.

XEM THÊM: Tuổi mậu dần sinh năm 1998 mệnh gì? hợp màu gì? hợp với ai?

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 10

“Việt Nam đất nước ta ơi,
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.”

Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó thân thiết với con người, làng quê Việt Nam. Bằng hạt gạo – hạt ngọc trời ban cho, Lang Liêu đã làm nên bánh chưng, bánh giầy tượng trưng cho trời và đất – để kính dâng vua Hùng. Chính vì thế, cây lúa nước đã trở thành một nét đẹp văn hóa của người Việt. Hình ảnh của cây lúa và người nông dân đã trở thành những mảnh màu không thể thiếu trong bức tranh của làng quê Việt Nam bây giờ và mãi mãi về sau.

Lúa là 1 thực vật quý giá, là cây trồng quan trọng nhất trong nhóm ngũ cốc, là cây lương thực chính của người Việt Nam nói riêng và người dân Châu Á kể chung. Lúa thuộc loài thân thảo. Thân cây lúa tròn chia thành từng lóng và mắt. Lóng thường rỗng ruột, chỉ với phần mắt là đặc. Lá lúa mang phiến dài và mỏng,mọc bao quành thân, mặt lá nhám, gân lá chạy song song. Tùy thời kì sinh trưởng, vững mạnh mà lá lúa mang màu khác nhau. Khi lúa chín ngả sang màu vàng. Rễ của cây lúa ko dài lắm, thường mọc với nhau thành chùm bám chặt vào bùn để giữ cho thân lúa thẳng đồng thời hút dưỡng chất nuôi thân cây. Hoa lúa nhỏ nhắn, mọc thành nhiều chùm dài. Điều đặc trưng của cây lúa mà ít ai lưu ý đến. Hoa lúa cũng chính là quả lúa song song trở nên hạt lúa sau này. Hoa lúa không sở hữu cánh hoa, chỉ sở hữu các vảy nhỏ bao bọc lấy nhuỵ ở bên trong. Lúc hoa lúa nở, đầu nhuỵ thò ra ngoài, sở hữu một chùm lông để quét hạt phấn. Hoa lúa tự thụ phấn rồi biến thành quả. Chất tinh bột trong quả khô đặc lại dần và biến thành hạt lúa chín vàng.

Trước đây, người Việt chỉ với hai vụ lúa: chiêm và mùa. Ngày nay, khoa học phát triển, mỗi năm có rộng rãi vụ nối tiếp nhau. Trồng lúa nên qua đa dạng giai đoạn: từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ; rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng. Ruộng cần cày bừa, khiến đất, bón phân. Ruộng phải sâm sấp nước. Khi lúa đẻ nhánh thành từng bụi (đang thì con gái) lại phải khiến cỏ, bón phân, diệt sâu bọ. Rồi lúa làm cho đòng, trổ bông rồi hạt lúa chắc hạt, chín vàng. Người nông dân cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo… Biết bao công sức của nhà nông để có hạt gạo nuôi sống con người.

Hạt gạo mang vai trò vô cộng quan trọng đối mang đời sống vật chất của chúng ta. Hạt gạo sản xuất chất dinh dưỡng thiết yếu, rất cần thiết cho thân thể con người. Ngoài việc nuôi sống con người, hạt lúa, hạt gạo còn gắn bó mang đời sống tinh thần của người Việt. Có đa dạng loại gạo: gạo tẻ, gạo nếp… Gạo nếp tiêu dùng khiến bánh chưng, bánh giầy là hai dòng bánh truyền thống của con người Việt Nam trong dịp Tết Nguyên Đán. Bánh chưng, bánh giầy còn gắn ngay lập tức sở hữu Lang Liêu thời vua Hùng dựng nước. Lúa nếp non còn dùng để làm cho cốm – một thức quà cao nhã của người Hà Nội. Gạo nếp dùng để đồ các chiếc xôi – 1 món đồ lễ ko thể thiếu trên bàn độc của người Việt Nam trong ngày Tết và ngày cúng giỗ tổ tiên. Đồng thời xôi cũng là thức quà thân thuộc hằng ngày. Từ lúa gạo, người Việt còn làm siêu đa dạng loại bánh như: bánh đa, bánh đúc, bánh giò, bánh tẻ, bánh nếp, bánh phở, cháo… Nếu không với gạo, thật là khó khăn trong việc tạo nên nền văn hóa ẩm thực sở hữu bản sắc đẹp văn hóa Việt Nam.

Ngày nay, nước ta đã lai tạo được gần 30 giống lúa được công nhận là giống lúa quốc gia. Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan về xuất khẩu gạo.

Tóm lại, cây lúa có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế nước nhà chủ yếu còn dựa vào nông nghiệp. Cây lúa bao đời là bạn thân thiết của người nông dân Việt Nam, không chỉ về mặt vật chất mà còn cả về mặt tinh thần. Mãi mãi vẫn còn nghe mọi người nhắc nhau những vần điệu ca dao thấp thoáng bóng hình con trâu và cây lúa:

“Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.
(Theo: “Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 9” NXB Giáo dục Việt Nam.)

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 11

Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Đối với người Việt chúng ta cây lúa không chỉ là một loại cây lương thực quý mà còn là một biểu tượng trong văn chương ẩn dưới “bát cơm”,”hạt gạo”.

Việt Nam, 1 nước sở hữu nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay. Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ 1 lượng lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang đa dạng thị trường to trên thế giới. Trong đấy ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành ngành cung cấp lương thực vô cộng quan trọng và đạt được các thành quả đáng kể, đưa Việt Nam phát triển thành nước xuất khẩu gạo to đồ vật hai trên thế giới.

Đối có người Việt chúng ta, hay đông đảo dân Á châu đề cập chung, cây lúa (tên kỹ thuật là Oryza sativa) và hạt gạo là 1 mẫu thực phẩm khôn cùng gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan yếu trong dinh dưỡng. Ngay từ lúc còn trong lòng mẹ, chúng ta đã làm quen mang cơm gạo, và to lên theo cây lúa cộng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông nghiệp, cây lúa và hạt gạo còn là 1 biểu tượng của cuộc sống. Ca dao, khẩu ngữ chúng ta với câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay “Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v..

Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực cốt yếu nuôi sống các thế hệ người Việt cho tới nay. Trong đời sống ý thức của con người, cây lúa cũng gắn bó thân thiết vô cùng. Điều đấy được bộc lộ vô cùng rõ trong tiếng nói hàng ngày, trong cách nói, phương pháp đặt tên, gọi tên từ cửa mồm của những người hai sương 1 nắng.

Bắt đầu từ lúc ném hột mộng xuống đồng. Thông thường ném buổi sáng thì buổi chiều mộng “ngồi” được, tức thị rễ đã bám được vào đất và mầm nhọn đã xuôi hướng lên trời. Bác nông dân hoàn toàn mang thể yên ổn tâm vì nó đã sống được trong môi trường mới, thực thụ của nó.

Qua hôm sau, mầm nhú lên cao hơn, khởi đầu có chút xanh xanh, người ta bảo là mạ đã “xanh đầu”. Mạ cũng có “gan”. “Gan mạ nằm ở thân non, dễ bị gãy nát. Cấy xuống được vài ba hôm thì lúa đâm rễ mới, gọi là bén chân hay “đứng chân”. Cũng như chữ “ngồi” ở trên, chữ “đứng chân” vô cùng chính xác, cực kỳ hình tượng, vì chỉ vài ba hôm trước do mới cấy, tất cả cây lúa đều ngả nghiêng, xiêu vẹo vẹo, thậm chí với cây còn bị nổi trên mặt nước nữa. Giờ đây đã “đứng chân” được, tức thị cũng giống như người ta, mang 1 tư thế đứng chân vững vàng, đã kiên cố bám trên mặt đất.

Khác sở hữu lúc nảy mầm, cây lúa sinh sôi bằng phương pháp “đẻ nhánh”. Nhánh “con” nhánh “cái” thi nhau mọc ra, tần vần thành khóm. Vào khoảng tháng hai âm lịch, khắp cánh đồng mơn mởn màu xanh. Dáng cây thuôn thả, mềm mại, dung nhan lá non tơ đầy nhựa sống gợi cái gì đấy tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng. Đó chính là lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người. Gặp hôm trời quang mây tạnh, đứng ở đầu làng mà trông, cánh đồng trải ra bát ngát, đẹp tựa bức tranh.

Hết thời kỳ xuân xanh, lúa chuyển sang giai đoạn “tròn mình”, “đứng cái” rồi “ôm đòng”. Đòng lúa to nhanh, nắng mưa rồi mỗi ngày mỗi khác. “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ/Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”. Nếu mưa thuận gió hoà chỉ mươi hôm là lúa trổ xong. Nhưng chẳng may gặp kỳ khô hạn thì đòng không trổ lên được, người ta bảo bị “nghẹn”. “Nghẹn” là cực lắm rồi, là có cái gì nó vương vướng, như uẩn ức trong lòng…

Ngoài ra cũng có thể bị “ngã”, bị “nằm” lúc gặp gió lớn mưa to. Ông bà ta sợ nhất cảnh này vì mấy tháng trông cây đã sắp đến ngày hái quả. Nếu chẳng may bị “ngã” non thì hạt thóc sẽ lép lửng, coi như hỏng ăn. Còn lúa “nằm” dưới nước, ngâm độ vài ngày thì hạt thóc trương lên, nứt nanh và nảy mầm ngay trên bông. Mầm nhú trắng trông xót ruột. Xót ruột về khoe vui với nhau, thóc nhà tôi “nhe răng cười” ông ạ!

Người nông dân xưa nay vốn mộc mạc, chất phác. Chẳng phải họ văn vẻ gì đâu. Chỉ vì gần gũi quá, thân quen quá. Ban ngày vác cuốc ra đồng thăm lúa. Ban đêm giấc mơ toàn thấy những cây lúa. Lúa là đói no, là người bạn có thể sẻ chia nỗi niềm, buồn vui tâm sự. Trải qua chiều dài các thế hệ, đời lúa lặn vào đời người. Và rồi, đời người lại chan hoà, gửi gắm vào đời lúa thông qua những từ ngữ nôm na, những tên gọi sinh động kể trên.

Cây lúa gần gũi với người nông dân cũng như bờ tre, khóm chuối. Bởi vậy thấm đẫm tình người và hồn quê, càng nắng mưa, sương gió, càng nồng nàn hoà quyện thân thương.

Nông nghiệp Việt Nam vốn mang dáng dấp một nước – nền công nghiệp lúa nước bao đời nay cho nên cây lúa gắn bó, gần gũi với người Việt, hồn Việt là lẽ dĩ nhiên.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 12

Việt Nam là đất nước có nền văn minh lúa nước từ bao đời nay. Nghề trồng lúa được xem là nghề chính và là niềm tự hào của cha ông ta, là thước đo giá trị tinh thần và kinh tế của Việt Nam. Cho đến bây giờ mặc dù công nghiệp hóa hiện đại hóa song nghề trồng lúa vẫn được coi trọng và đầu tư. Cây lúa nước cũng vì thế mà đi vào đời sống của mỗi con người như một lẽ sống, có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Ở Việt Nam nghề trồng lúa nước có từ rất lâu, kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi thời kỳ lại có những bước tiến và phát minh mới để nâng cao năng suất của cây lúa nước.

Cây lúa nước là cây lương thực chủ đạo của Việt Nam, mặc dù bên cạnh nó còn có các loại cây khác như ngô, khoai, sắn nhưng không loại cây nào có thể thay thế được vị trí, vai trò quan trọng của lúa nước.

Lúa chính là thành quả của một quá trình lao động sản xuất nhiều công đoạn, trải qua nhiều nắng mưa, nhiều mồ hôi và lo toan của người nông dân. Bởi thế người ta vẫn bảo nhau rằng:

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

“Cuộc đời” của cây lúa nước cũng như sự phát triển của một đời người, đều có quá trình, có những vất vả và gian nan. Lúa được hình thành nên bởi bàn tay vất vả, khéo léo, hai sương một nắng của người nông dân. KHông phải cứ gieo xuống bùn, cấy xuống bùn là chờ đến ngày trổ bông. Mỗi giai đoạn phát triển của cây lúa nước không chỉ phụ thuộc vào người nông dân mà còn bị chi phối bởi thời tiết.

Từ 1 hạt lúa sẽ tạo cần thành rộng rãi hạt lúa chắc mẩm chính là quá trình sinh sôi và lớn mạnh của cây lúa nước. Người dân cày sẽ lựa tìm các hạt lúa tròn và chắc để làm giống, ủ vào nơi kín gió có nhiệt độ phù hợp, hạn chế sự thâm nhập của sâu bọ, chuột gián. Ủ trong 1 thời kì vài ngày thì hạt thóc giống sẽ sở hữu độ ấm và khởi đầu nhú lên các mầm trắng nhỏ xinh. Những mầm trắng ấy siêu yếu ớt bắt buộc người nông dân khéo léo không khiến gãy chúng, bởi đó chính là cây mạ non sau này khi cấy xuống bùn. Ngay từ quá trình đầu đã bắt buộc kinh nghiệm, sự khéo léo và tận tường của bàn tay người nông dân đế tạo ra các cây mạ cứng cáp.

Họ sẽ sử dụng các hạt tròn nảy mầm đấy gieo xuống luống đất sền sệt, vừa đủ nước ở ngoài cánh đồng. Chờ đến 1 thời đủ dài để hạt giống đó tạo thành các cây mạ non nằm sát vào nhau, màu xanh rất mượt mà. Lúc đó cả cánh đồng đều bị nhan sắc xanh của đám mạ non bao phủ lấy, tạo nên sự yên bình và yên ả giữa chốn quê nhà.

Khi cây mạ non đã đến thì với thể cấy được thì người dân cày lại thêm 1 công đoạn tiếp theo. Ruộng đồng được cày bừa và lấy nước đủ đầy thì họ khởi đầu với đám mạ non đó cấy xuống bùn. Bàn tay khéo léo, thoăn thoắt của những mẹ, những chị đã tạo cần các hàng lúa thẳng tắp, nhìn cực kỳ đẹp mắt.

Vậy là đã hoàn tất quá trình cấy lúa, tiếp sau đó tới quá trình chăm sóc lúa theo từng thời kỳ thích hợp nhất. Sau khi cấy thì người nông dân đã phun thuốc để phòng trừ sâu bệnh gây hại, vì đây là thời kỳ lúa còn non, rất dễ bị sâu bệnh xâm nhập. Người nông dân đã trải qua bao nhiêu nắng mưa, phổ biến đêm lo lắng nghĩ đa số cách tìm ra bí quyết phòng chống sâu bệnh hiệu quả nhất và tiện tặn nhất. Trồng được một hạt lúa là cả một nỗi dài nhọc nhằn, lo toan. Để chúng ta ta giờ ăn 1 bát cơm nên phải nâng niu và trân trọng.

Trải qua một quá trình chăm sóc, vun trồng, tưới tiêu và thời tiết ưu ái thì người nông dân sẽ có một vụ mùa thắng lợi, gánh về sân những hạt thóc tròn vàng ươm.

Lúa ở Việt Nam có hai loại chủ yếu là lúa nếp và lúa tẻ. Lúa tẻ là loại lúa hạt dài mà người dân vẫn thường dùng trong các bữa cơm, còn lúa nếp là loại lúa mình tròn nẩy người ta thường dùng để làm xôi, làm bánh. Mỗi loại lúa đều có vai trò và chức năng riêng của nó.

Lúa nước Việt Nam có vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của mỗi gia đình, là “gia vị” không thể thiếu trong mỗi bữa cơm người Việt. Mỗi khi chúng ta ăn hạt cơm trắng tròn, dẻo thơm vẫn không quên được công lao, gian nan của những người nông dân đã làm ra chúng. Trong những bữa tiệc quan trọng thì gạo vẫn chiếm vai trò quan trọng không thể thiếu. Đặc biệt với sự tích Bánh chưng bánh giầy từ thời Hùng Vương đã đề cao vai trò của cây lúa đối với đời sống chúng ta.

Cho đến nay, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn trên thị trường thế giới. Đây là điều khiến cho chúng ta và hơn hết là người nông dân tự hào vì công sức mà mình bỏ ra được đền đáp. Việt Nam phát triển lên từ ngành trồng lúa nước, và nó mãi mãi là nghề truyền thống không thể thay thế.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 13

Lúa là người bạn muôn đời gắn bó với sự cần lao của người nông dân Việt Nam. Nếu hoa sen mang vẻ đẹp thanh khiết, áo dài mang vẻ đẹp thướt tha đặc trưng của người phụ nữ Á Đông, thì cây lúa Việt Nam có một nét đẹp dân dã thân thuộc.

Việt nam là 1 nước xuất khẩu gạo và với một ngành nông nghiệp trồng lúa từ xa xưa, trên mọi cánh đồng lúa rải khắp những vùng đất từ Bắc vào Nam. Và các giống lúa cũng ngày càng phổ biến , phong phú bởi lúa được nghiên cứu nuôi trồng và nhân giống. Lúa có rộng rãi mẫu tùy thuộc theo từng vùng miền, khí hậu, mỗi vùng miền mang địa hình và đất khác nhau bắt buộc lúa cũng phân bố khác nhau, nhưng ưng ý trồng lúa nhất là các vùng mang nước ngọt, trường hợp vùng với nước quá mặn, phèn như vùng Tây Nguyên, lúa không thể lên được và cây lúa sống cốt tử nhờ nước là loại cây lá mầm rễ chùm. Thân lúa sở hữu chiều rộng từ 2-3 cm, chiều cao khoảng từ 60-80 cm. Cây lúa được chia khiến ba bộ phận chính , nhờ chúng cây mang thể lớn mạnh tốt: rễ cây nằm dưới lớp đất phì nhiêu mang tác dụng hút chất dinh dưỡng nuôi cơ thể, thân cây là cầu nối con đường đưa dinh dưỡng từ rễ lên ngọn, còn ngọn là nơi bông lúa sinh trưởng và trở thành hạt lúa. Lúa chín rồi có màu vàng và người ta gặt về làm thành gạo. Người nông dân thường trồng những dòng giống lúa đa dạng như: lúa nước, lúa tẻ, lúa cạn, lúa nước nông, lúa nước sâu. Lúa nếp người ta thường trồng để làm bánh: bánh trưng, bánh nếp, hoặc để thổi xôi, còn lúa tẻ là lúa trồng làm cho nguồn thực phẩm chính, đóng vai trò quan trọng trong mỗi bữa ăn của người dân Việt Nam còn lúa non được tiêu dùng làm cốm. Theo các nghiên cứu, trước kia thánh sư ta trồng giống lúa NN8, hiện tại thì miền Bắc trồng các loại giống lúa C70, DT10, A20.

thuyết minh về cây lúa
thuyết minh về cây lúa

Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên là nước nông nghiệp và xuất khẩu gạo đứng trang bị 2 thế giới, để mang được thành quả ngày hôm nay, người dân cày phải vất vả, cần lao siêng năng ,thực hiện đúng các quá trình để có được một vụ mùa bội thu: từ gieo mạ, cấy mạ, bón phân, tưới tắm ,nhổ cỏ và những ngày đông hoặc mưa bão, hạn hán người dân phải khổ cực nhiều lần để che đậy và chăm nom chúng. Trong suốt thời gian cây lúa sinh trưởng, hàng tuần người dân cày bắt buộc ra đồng chăm lúa và lấy nước. Việc thăm lúa giúp người nông dân phát hiện các ổ sâu hại lúa và bón phân để lúa vững mạnh rẻ hơn. Đợt tới lúc cánh đồng khởi đầu ngả màu vàng , người dân cày mới thu hoạch. Trước đây người dân thu hoạch bằng tay vô cùng vất vả và tốn kém nhưng ngày nay , kỹ thuật vững mạnh tiến bộ hơn, người ta thu hoạch bằng máy cần đỡ phần nào vất vả cho con người. Từ thời tiên sư cha ta, quần chúng. # trồng chỉ với hai vụ lúa: chiêm và mùa. Ngày nay, xã hội phát triển, công nghệ trong cung cấp được nâng cao hơn, mỗi năm mang nhiều vụ tiếp nối nhau. Trồng lúa phải qua đa dạng giai đoạn: từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ; rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng. Ruộng nên cày bừa, khiến đất, bón phân. Ruộng bắt buộc sâm sấp nước. Khi lúa đẻ nhánh thành từng bụi , người dân lại nên làm cỏ, bón phân, diệt sâu bọ. Rồi lúa làm đòng, trổ bông rồi hạt lúa chắc hạt, chín vàng. Người dân cày cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo. Biết bao công sức của nhà nông để có hạt gạo nuôi sống con người. Những hạt gạo được khiến cho ra không chỉ chuyên dụng cho bữa ăn chính của con người mà còn để khiến cho bánh, nấu xôi, đặc biệt vào các dịp lễ hay Tết, gạo để khiến bánh bác bỏ truyền thống và còn khiến cho món quà trao nhau. Chính những người nông dân đó đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam sở hữu vị thế như ngày bữa nay sở hữu ngành lúa nước hay tổ quốc chúng ta còn được ngợi ca là Văn Minh Lúa Nước.

Cây lúa chính là người bạn thân thiết của người nông dân Việt Nam và là nguồn lương thực dồi dào của nước ta, có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế, mang lại sự no đủ cho chúng ta và trở thành nét đẹp tinh thần của người dân Việt Nam.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 14

“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”

Từ xa xưa, cây lúa đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Việt. Lúa không chỉ là nguồn thức dưỡng nuôi sống con người mà còn trở thành biểu tượng của làng quê yên bình, là nét văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam.

Nhiều nhà khoa học cho rằng quê hương của cây lúa nước là vùng Đông Nam Á. Ở Việt Nam, từ thời Hùng Vương, nhân dân ta đã biết cấy lúa. Nghề trồng lúa nước đã truyền từ đời này sang đời khác, là ngành nông nghiệp chính của đất nước ta.

Lúa nước là cây lương thực chính của Việt Nam cũng như đa dạng nước châu Á khác, trong khi châu u lại là lúa mì. Lúa thuộc loài thân thảo, sở hữu đa dạng lóng và mắt. Chiều cao của thân được tính từ gốc tới cổ bông còn chiều cao của cây được tính từ gốc đến bông cao nhất. Lá lúa dài trông như lưỡi kiếm, khi lúa chín ngả sang vàng. Gân lá chạy song song với phiến lá, phiến lá mỏng và sở hữu đa dạng lông ráp. Rễ lúa là rễ chùm, bám sâu xuống lòng đất để giữ cho cây khỏi đổ và hút dưỡng chất nuôi cây. Hoa lúa cũng chính là hạt lúa sau này. Lúa là dòng cây tự thụ phấn, sau thụ tinh phôi nhũ vươn lên là hạt, chất tinh bột từ dạng lỏng qua 1 thời gian từ 2-3 tháng thành dạng đặc.

Ở miền Bắc thường với hai vụ lúa chính là vụ chiêm và vụ mùa, còn ở miền Nam một năm mang 3 vụ lúa. Trồng lúa sở hữu rộng rãi công đoạn. Đầu tiên, người dân cày cần ngâm cho hạt lúa nảy mầm, nhà nông với câu “tốt giống rẻ má, thấp mạ thấp lúa”, hạt giống mang rẻ thì cây lúa sau này mới với năng suất cao. Tiếp theo là công đoạn gieo mạ. Những cây mạ non ban sơ yếu ớt tiếp thụ các gì tinh túy nhất của đất trời dần trở thành cứng cáp và xanh tươi mơn mởn. Lúa lúc xanh còn được gọi là lúa đương thì con gái. Đây là quá trình người nông dân cần coi ngó rẻ cho lúa: bón phân, khiến cho cỏ, diệt côn trùng gây hại. Rồi lúa đẻ nhánh, lúa khiến cho đòng, hương lúa thoang thoảng khắp cả cánh đồng. Lúa chín, bông lúa vàng trĩu hạt khiến cho cả cây oằn xuống. Giờ đã đến quá trình thu hoạch lúa, những bác bỏ nông dân gặt lúa, tuốt hạt, phơi cho khô và bảo quản lúa ở nơi khô ráo, thoáng mát.

Lúa có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của chúng ta. Không chỉ cung cấp một lượng tinh bột lớn duy trì năng lượng cho con người, từ hạt gạo, người ta có thể chế biến ra vô vàn món ăn. Bánh chưng, bánh giầy được Lang Liêu làm ra từ gạo nếp để dâng vua Hùng là hai loại bánh truyền thống trong ngày tết. Bánh giầy tượng trưng cho trời còn bánh chưng tượng trưng cho đất. Lúa nếp non được rang thành cốm- là một thức quà quen thuộc của người Hà Nội mỗi khi mùa thu tới. Gạo nếp còn được nấu thành xôi- là món đồ không thể thiếu trong mâm cơm của người Việt vào ngày giỗ tổ tiên hay lễ, tết. Ngoài ra, chúng ta còn có biết bao loại bánh khác nhau được làm từ gạo: bánh cuốn, bánh đa, bánh nếp, bánh tẻ, bánh đúc…. Thân lúa sau khi thu hoạch được phơi khô có thể làm chất đốt hoặc thức ăn cho trâu, bò… Vỏ lúa được dùng làm trấu. Cám là một sản phẩm sau khi người ta xát gạo, dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm.

Lúa có hai loại chính là lúa nếp và lúa tẻ. Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học- kĩ thuật, người ta đã tạo ra nhiều loại lúa cho chất lượng và năng suất cao hơn. Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất nước ta. Việt Nam từ một đất nước đói nghèo đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới. Những cánh đồng lúa rộng bát ngát thẳng cánh cò bay là biểu tượng cho sự bình yên của làng quê, tô điểm cho vẻ đẹp của quê hương đất nước.

Ngày nay, nhiều tòa cao ốc mọc lên thay thế đồng ruộng nhưng cây lúa vẫn chiếm một vị trí quan trọng không thể thay thế trong đời sống của người dân Việt Nam. Cây lúa sẽ mãi là người bạn thân thiết của người nông dân, là nét đẹp bình dị của quê hương yêu dấu.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 15

Đến với những vùng thôn quê Việt Nam, không thể không kể đến hình ảnh những đồng lúa bạt ngàn, trải rộng mênh mông, những cây lúa rung rinh trước gió dưới chiều tà cho con người cảm giác bình yên, tự tại. Có thể nói, cây lúa mang lại nhiều giá trị tốt đẹp cho người nông dân và cho xã hội.

Giống lúa tại Việt Nam hiện tại khởi thủy từ 1 dòng lúa dại với từ hàng vạn năm trước với thân và hạt nhỏ trải qua phổ biến quá trình tiến hóa, lai tạo giống mà từ một cái lúa dại đơn giản hiện đã với hàng chục giống lúa khác. Theo lời truyền mồm của dân gian, khởi thủy của lúa được phát hiện bởi một đôi vợ chồng do nạn đói kéo dài bắt buộc họ đã lánh vào rừng sinh sống, ngày ngày săn bắt chim thú và ngẫu nhiên phát hiện ra 1 mẫu hạt có thể gieo trồng và giúp người dân thoát khỏi nạn đói kéo dài. Loại hạt đó chính là hạt lúa.

Tuy lúa tại Việt Nam mang siêu rộng rãi giống khác nhau nhưng mang thể phân dòng theo hai nhóm chính: lúa nếp và lúa tẻ. Lúa nếp mang phổ biến giống, tiêu biểu như lúa nếp mẫu hoa vàng mang chiều cao trung bình khoảng hơn mét, chịu được khí hậu khắc nghiệt, năng suất ra hạt tầm trung, người dân thường sử dụng lúa nếp để nấu rượu nếp, xay bột nếp, nấu sôi, là nguyên liệu làm cho bánh chưng. Với nhóm lúa tẻ, nức danh mang lúa Nàng Hương, mang chiều cao lên đến khoảng 3, 4 m, hạt nhỏ, dẻo, người dân tiêu dùng gạo tẻ để nấu cơm ăn theo bữa, nấu cháo, khiến bún, phở.

Dù là lúa nếp hay lúa tẻ đều với chung đặc điểm về cấu tạo trong và bên cạnh của cây. Lúa là cây thân cỏ, sở hữu chiều cao từ 1m – 3m, là cái cây rễ chùm đạt chiều cao tối đa khoảng 2 – 3 km. Lá lúa dài, đẹp ko sở hữu màu khăng khăng mà thay đổi theo từng thời kỳ phát triển của cây lúa. Hoa lúa có màu trắng, xuất hiện từ thời kỳ sinh trưởng sinh thực, mang khả năng tự thụ phấn cho cây trở nên các hạt thóc nhỏ. Hạt thóc lúc ban sơ xuất hiện với màu xanh, khi chín đổi thành vàng nhạt, nhỏ chỉ dài khoảng 10 – 20 mm.

Mặt khác, từ lúc gieo mạ tới khi vươn lên là lúa chín lại buộc phải 1 công đoạn dài, rộng rãi giai đoạn. Đầu tiên, người dân cày gieo mạ vào mùa xuân tháng chạp, sắp tết, mạ được gieo tại một khu đất riêng biệt với ruộng để ủ tầm 3 – 4 tuần thì người dân cày mới nhổ mạ và đi cấy tại ruộng. Từ mạ sau khi ủ vươn lên là cây con cao khoảng 10cm, gọi là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng. Tiếp đến là thời kỳ sinh trưởng sinh thực khi từ cây con, lúa dần vững mạnh chiều cao đến độ dài nhất định, lúa bắt đầu ra các bông hoa trắng, sau đó những bông hoa trắng dần thu vào kết thành những hạt thóc nhỏ màu xanh, vỏ hạt cứng, khó tách khỏi cây. Cuối cộng là thời kỳ lúa chín, những hạt thóc chuyển dần về màu vỏ vàng tươi hay còn gọi là cám, dễ dàng tuốt hạt bằng tay, phần ngọn lúa dần chuyển màu vàng nhạt. Người dân cày thu hoạch lúa, tuốt những hạt thóc, phần lá còn lại sau khi tuốt tạo thành những đống rơm rạ.

Cây lúa mang lại cho người nông dân và cho xã hội nhiều giá trị đặc sắc, to lớn. Về mặt giá trị sử dụng, lúa được đưa vào sản xuất, xuất khẩu ra thế giới, là một nguồn lợi nhuận của người nông dân, lúa còn là lương thực chính trong các bữa ăn hàng ngày của người dân. Hạt gạo được đưa vào chế biến phở, bún, bột mỳ. Về giá trị tinh thần, lúa giúp Việt Nam trở thành nước đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, gắn bó với người dân hàng vạn năm qua.

Như vậy, lúa dù trải qua bao thập kỷ hay bao thăng trầm lịch sử vẫn luôn giữ một vị trí và vai trò quan trọng không hề thay đổi. Hiện nay, diện tích trồng lúa dần bị thu hẹp, công nghiệp hóa đã để lại hậu quả lũ lội quanh năm, tuy thời thế thay đổi nhưng giá trị mà lúa mang lại vẫn vẹn nguyên.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 16

Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 50% số dân làm nghề nông. Chính vì thế, cây lúa là một loài cây quan trọng trong đời sống người Việt. Nó phục vụ chủ yếu cho nhu cầu lương thực trong nước, ngoài ra còn để xuất khẩu ra nước ngoài. Sản lượng xuất khẩu lúa gạo Việt Nam đã đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Thái Lan. Vì thế, cây lúa đã góp phần quan trọng trong việc phát triển đất nước.

Đối với mỗi chúng ta, cây lúa đã trở nên quen thuộc. Cây lúa thân nhỏ, với lớp vỏ bên ngoại trừ bao nói quanh còn bên trong là thân vô cùng bé nhưng khỏe. Mỗi cây có khoảng năm, sáu lá sở hữu màu xanh, nhọn, với một lớp lông hơi ráp. Mỗi cây với 1 bông lúa mang vô cùng đa dạng hạt. Mỗi lúc lúa lên đòng, mùi sữa trong các hạt lúa đó tỏa ra thơm nhè nhẹ. Cây lúa cũng như người Việt Nam, luôn kết đoàn lẫn nhau: Mỗi cây lúa ở trong 1 khóm lúa, mỗi khóm lúa trong một ruộng lúa, ruộng lúa trong một cánh đồng cùng che chở cho nhau. Nếu như nói: “Cây lúa là loài cây quan trọng nhất trong đời sống Việt Nam” thì cũng ko sai. Cây lúa là cây lương thực chính yếu của Việt Nam. Chính cây lương thực này đã làm cho cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng cực kỳ nhanh, đáp ứng nhu cầu trong và ngoại trừ nước. Ngoài ra, lúa gạo cũng để làm nguyên liệu chế biến ra các món ăn vừa dân dã vừa đậm đà hương vị dân tộc như bánh chưng, cốm, xôi hoặc các dòng bánh… Ở nông thôn, người ta còn tận dụng vỏ trấu để đốt hoặc sử dụng trong những lò ấp trứng. Cám thì lại để tiêu dùng cho gia súc ăn, cực kỳ nhân thể mà hơn thế cám còn giúp cho gia súc tăng trưởng tốt. Còn rơm rạ lại là chất đốt hàng ngày trong cuộc sống ở nông thôn. Nếu quay trở lại ngày xưa, ta còn thấy tiên sư ta lợp nhà bằng rơm. Trong xã hội tăng trưởng như bây giờ, những ngôi nhà lợp rơm hầu như ko còn nữa. Thế nhưng, những cái chổi khiến cho bằng rơm thì vẫn còn tồn tại vì nó siêu luôn tiện sử dụng. Ngoài ra, rơm cũng là thành phần quan trọng trong việc trồng nấm, giúp nấm phát triển nhanh. Nói chung, xét trên bình diện vật chất, cây lúa sở hữu vai trò vô cộng quan yếu trong đời sống của người Việt Nam.

Cây lúa cũng là một loài cây có ý nghĩa rất lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Cây lúa tượng trưng cho nền văn minh lúa nước không chỉ của Việt Nam mà còn của cả Đông Nam Á. Cây lúa là biểu tượng cho sự no ấm, đầy đủ. Không chỉ thế, cây lúa còn là nguyên liệu để làm ra các món ăn ngon, các món ăn để cúng lễ tổ tiên vào dịp lễ Tết như bánh chưng, xôi, bánh giày. Chính điều này đã tạo ra một nền văn hoá ẩm thực đặc sắc của Việt Nam với các món ăn đầy ý nghĩa như bánh chưng tượng trưng cho đất, bánh giầy tượng trưng cho trời. Đó là điều khiến cây lúa gắn với con người Việt Nam về vật chất cũng như tinh thần từ bao đời nay.

Cây lúa đã trở thành một người bạn gần gũi, thân quen với mọi người dân Việt Nam. Con người Việt Nam nói chung và người nông dân Việt Nam nói riêng đều coi trọng cây lúa và những sản phẩm mà nó đem lại. Chắc chắn rằng, cây lúa sẽ luôn tồn tại và gắn bó với con người Việt Nam từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 17

“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”

Cây lúa là loài cây quen thuộc gắn bó với người Việt từ ngàn đời nay, tư thuở sơ khai dựng nước cho tới tận bây giờ. Có lẽ vì thế mà hình ảnh cây lúa đi vào trong tiềm thức người Việt, vào cả những câu ca dao, dân ca một cách thật tự nhiên và thật đẹp với sự trân trọng và nâng niu như một báu vật của đời người

Lúa là loài thực vật thuộc nhóm những cái cỏ đã được thuần dưỡng. Đây là mẫu cây lương thực được trồng rộng rãi ở những khu vực Đông Nam Châu Á và Châu Phi. Trải qua hàng triệu năm thuần chủng và tiến hóa, lúa nước mới có hình dáng và kích tấc cũng như các đặc tính của hiện tại. Lúa là loài cây lương thực có vòng đời sống trong 1 năm, thuộc loài cây thân thảo. Thân lúa thường mọc thẳng, trên thân với phổ biến đốt rộng khoảng 2-3cm, cao khoảng 60-80cm. Thân lúa mềm, trong rỗng nên mỗi lần mang gió, cả đồng lúa xanh mướt lả lướt tạo thành các sóng lúa tít tận chân trời. Lá lúa với phiến dầu và mỏng, viền lá sắc, mọc bao vòng vèo và sắp xếp đối xứng loanh quanh thân lúa. Mặt lá sờ vào với cảm giác nham nháp như 1 phủ một lớp da mỏng. Trên lá sở hữu đường gân chạy song song. Rễ của lúa là rễ chùm, bám chặt vào bùn để giữ cho thân lúa đứng thẳng và cũng là nơi hút chất dinh dưỡng từ đất nuôi cây lớn. Hạt lúa với vỏ ko kể màu vàng, còn được gọi là vỏ trấu, khá ráp, bao bọc lấy hạt gạo sữa trắng ngần, thơm mát bên trong.

Ở Việt Nam có hai vụ lúa chính là vụ chiêm và vụ mùa. Nhưng sau khi cải tiến và lai tạo, bây giờ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sở hữu tới 3 vụ mùa một năm. Vụ chiêm thu hoạch vào tháng năm, tháng sáu còn vụ mùa vào tháng tám hoặc tháng chín âm lịch. Lúa chia thành các quá trình phát triển, mỗi công đoạn sẽ mang những đặc điểm riêng. Sau khi ngâm thóc cho hạt thóc nảy mầm, người nông dân mang đôi bàn tay khéo léo sẽ lấy từng nắm hạt giống, vãi ra khắp cánh đồng đã được bừa thật kĩ, láng thật mịn. Chỉ vài ngày sau hạt thóc sẽ nhú lên các cây mạ xanh non, biếc rờn rồi được cấy thành từng hàng thẳng tắp. Đất là một trong các yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng của cây lúa. Bởi lúa chỉ mang thể lớn mạnh thấp nhất ở đất phù sa, với nhiệt độ lí tưởng cho cây lúa là từ 20-30 độ C. Trong vùng nhiệt độ sấy lúa sẽ lớn nhanh, hạt lúa sẽ chắc và mẩy. Lúa càng lớn càng bắt buộc coi ngó kĩ bởi thời gian này lúa cực kỳ dễ bị nhiễm bệnh hoặc thiếu dinh dưỡng. Người dân cày chăm cấy lúa như chăm con, từ nhổ cỏ, tưới nước, bón phân đến bắt sâu, diệt bọ từ khi cây lúa còn đương thì con gái cho đến tận khi cây đã trổ đòng rồi chín vàng. Lúa chín sẽ chuyển sang màu vàng ruộm, tỏa ra mùi thơm thoang thoảng. Hạt lúa vàng ươm nặng trĩu kéo thân lúa sà sát mặt đất như mái tóc óng ả của người con gái đang độ xuân thì. Khi ấy cũng là lúc người dân cày thu hoạch lúa. Dưới cái nắng hè chói chang, những bóng nón trắng nhấp nhô trên cánh đồng lúa chín vàng. Lúa được gặt rồi bó thành từng bó to rồi tuốt hạt, phơi hai ba nắng lớn cho hạt lúa khô, để được lâu hơn rồi say rồi giã, rồi dần, rồi sàng, đủ toàn bộ giai đoạn mới sở hữu được một hạt gạo trắng ngần, béo múp. Có lẽ cũng vì mẫu khó khăn, nhọc nhằn ấy mà ca dao xưa đã có những câu:

“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

Hạt gạo trắng, những bát cơm dẻo thơm nghi ngút khói trong bữa cơm của mỗi nhà được làm ra bởi cái nắng chói chang của vùng nhiệt đới cùng những giọt mồ hôi mặn mòi của người nông dân cả ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Cũng vì thế mà người Việt yêu hạt gạo, nâng niu trân trọng và biết ơn những con người đã vất vả làm ra nó.

Cây lúa được trồng ở hầu hết các vùng trên cả nước. Dù không phải đất ở vùng nào cũng có thể trồng lúa nước nhưng nhờ sự sáng tạo, cần mẫn và khéo léo, người Việt không chỉ trồng được lúa trên các vùng đồng bằng bằng phẳng, màu mỡ mà ngay cả trên những vùng núi cao trập trùng, nghèo dinh dưỡng họ cũng có thể tạo ra những cánh đồng lúa chín vàng như những bậc thang nối từ mặt đất lên tới trời xanh. Lúa là loại lương thực chính của người Việt nói riêng, người Châu Á nói chung, cũng là loại lương thực quan trọng nhất trong năm loại ngũ cốc. Gạo cung cấp cho con người những chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì sự sống của con người. Trong bữa cơm của mỗi gia đình Việt, thứ không thể thiếu chính là bát cơm gạo trắng tinh, mềm mềm, thơm phức và ngọt ngào. Bánh chưng – thứ bánh truyền thống của dân tộc trên bàn thờ gia tiên mỗi ngày Tết, là kết tinh của hạt gạo nếp, của thịt mỡ, của tiêu, của hành rồi được gói trong lá rong xanh mướt, trở thành tinh hoa trong ẩm thực Việt. Còn nhiều thật nhiều những món ăn ngon được làm từ hạt gạo: từ món cốm thơm từ hạt nếp non mỡ màng đến những món xôi ngon lành, mát mắt từ hạt nếp…tất cả đều trở thành thức quà khó quên trong tâm hồn người Việt.

Cây lúa còn có vai trò quan trọng trong tâm thức của người Việt. Với nền văn minh lúa nước có lịch sử 4000 năm, những lễ hội thể hiện sự biết ơn với cây lúa của người Ba Na (Gia Lai), lễ hội mừng lúa mới của người Xơ Đăng, người S’tiêng, lễ hội A Za Kông tạ ơn mẹ lúa và các giống cây trồng của người Tà Ôi, lễ mừng lúa sinh trưởng của người Mạ, lễ hội “Ăn trâu cúng thần được một ngàn gùi lúa” của người Mạ…khiến cho ta thấy sự ảnh hưởng, trân trọng và biết ơn của con người đối với cây lúa. Cây lúa cũng đi vào trong thơ ca, hội họa của con người như một lẽ tự nhiên và nó trở thành thi liệu để người nghệ sĩ vẽ lên hình ảnh về đất và người Việt.

Ngày nay, lúa gạo trở thành một trong những nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta và nước ta đã trở thành nước có sản lượng gạo xuất khẩu lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Thái Lan. Điều ấy cũng có nghĩa, lúa không chỉ là người bạn mà còn trở thành nguồn thu để nuôi sống biết bao đời người Việt từ xa xưa cho đến tận bây giờ.

Cây lúa nước mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị như chính tâm hồn của người Việt, đã gắn bó với con người Việt cả ngàn đời nay. Và dù cuộc sống có hiện đại, phát triển thì cây lúa vẫn sẽ giữ một vị trí quan trọng trong cả đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam.

XEM THÊM: 2001 mệnh gì? tuổi con gì? Hợp với Hướng nào nhất?

Thuyết minh về cây lúa nước – Mẫu 18

Chào các bạn, tôi là cây lúa của quê hương Việt Nam đây. Tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt này vì thế chúng tôi từ xưa đến nay luôn là một thứ lương thực không thể thiếu trong đời sống của mọi người. Sau đây, tôi sẽ kể cho bạn nghe về họ lúa chúng tôi.

Tôi có nguồn gốc từ một loài cây có hạt mọc ở ven sông, sau đó được con người đưa về nuôi cấy và lai tạo để cho ra đời giống lúa như ngày hôm nay. Nhưng cũng có những tài liệu cho rằng, tổ tiên của chúng tôi là những cây dại mọc vùng Đông Nam Á và Ấn Độ. Họ nhà lúc chúng tôi thuộc lớp hai lá mầm, thân cỏ và rễ chùm. Cuộc đời của họ lúa chúng tôi được phát triển theo vòng tuần hoàn khép kín.

Đầu tiên chúng tôi chỉ là những hạt thóc nhỏ bé, nhưng sau đấy những bác dân cày đem chúng tôi đi ngâm ủ chu đáo trong các điều kiện nghiêm ngặt. Có trải qua được công đoạn ấy, chúng tôi mới nảy mầm và trở thành những cây mạ con. Rồi dưới đôi bàn tay thần diệu của các chưng nông dân, chúng tôi chóng lớn và bước vào thời gian con gái, rồi lớn dần và ra hoa ra quả và thu hoạch. Nghe qua thì có vẻ dễ lắm đấy nhưng đó lại là một giai đoạn đầy gian truân và vất vả, đều đòi hỏi một quy trình khép kín nhất định.

Ban đầu là giai đoạn chọn giống. Giai đoạn này đòi hỏi các chưng nông dân buộc phải bền chí tậu lấy từng hạt giống rẻ nhất, cái bỏ các hạt sâu hạt bệnh rồi mới đem đi ngâm ủ. Đây là quy trình khá khắt khe vì những chưng ấy phải tuân thủ theo đúng quy định về độ ấm của nước, độ thoáng của không khí, có như vậy chúng tôi mới có thời cơ nảy mầm.

Sau thời gian ngâm được từ mười năm đến hai mươi ngày thì các chưng đem chúng tôi ra những thửa ruộng đã được cày xới tơi xốp. Các bác bỏ đi đến đâu thì rắc những hạt mầm chúng tôi xuống đất. Ngày nối ngày thoắt chiếc đã qua một tháng. Những hạt mộng ngày nào giờ đã trở thành những cây mạ cao lớn.

Mạ lúc này đã cao khoảng mười năm cm chỉ phải độ hai mươi ngày nữa chúng tôi sẽ phát triển thành các thiếu nữ xanh mướt và bước vào công đoạn thì con gái. Giai đoạn này, lá của chúng tôi cứng và đanh hơn, thân chúng tôi đan vào nhau tạo thành các khóm lúa. Cánh đồng khi này như trở thành 1 dải lụa xanh mà cô thôn nữ nào đánh rơi mất, một cơn gió thổi qua thôi cũng khiến cho cho dải lụa đó gợi lên các lượn sóng mềm mại.

Cũng mang khi nó yên ả và tĩnh lặng, các chiếc lá như các thanh gươm đâm thẳng lên trời. Giai đoạn này chúng tôi bắt buộc hơn hết là sự chăm nom của các bác nông dân. Những chưng nông dân phải theo dõi chúng tôi thường xuyên, bón phân và bắt sâu để bảo đảm cho chúng tôi lớn mạnh khỏe mạnh. Chẳng bao lâu sau, thân chúng tôi khởi đầu tách ra làm lộ ra các cái đòng đòng cứ nhô cao nhô mãi cho tới khi vững lá mới thôi.

Trên các thân dòng đòng đòng đấy là các hạt lúa còn nguyên bụng sữa, chờ cho ánh nắng chiếu vào mình. Người nông dân gọi đây là giai đoạn phơi nắng. Dưới ánh nắng từ mặt trời, những đứa con mũm mĩm của chúng tôi cứ săn lại dần, nặng trĩu tinh túy của đất trời mà dần dần ngả xuống, nom chẳng khác nào tấm lưng còng của người nông dân dưới trưa hè. Đợi lúc các bông lúa đó vàng ươm , cũng là lúc những bác nông dân gặt chúng tôi về tuốt lấy các hạt thóc căng tròn, sắm lựa giống cho năm sau và đêm đi sát để thu lấy các hạt gạo trắng phau và thơm phức. Vậy là chấm dứt một vòng đời của chúng tôi.

Nhưng bạn chớ thấy tôi nhỏ bé mà không nâng niu nhé! Bạn biết không chính những hạt gạo là nguồn cung cấp lương thực cho nông dân, xuất khẩu gạo cũng trở thành một ngành kinh tế then chốt rồi đấy. Rồi các loại bánh như bánh trưng, bánh nếp.. đều được làm từ loài lúa chúng tôi đây. Không những vậy chúng tôi còn đi vào những bài hát quen thuộc với làng quê như Hạt gạo làng ta.

#Dân bài thuyết minh về cây lúa
#Việt đoạn văn khoảng 100 chủ thuyết minh về cây lúa
#Bài làm văn số 1 thuyết minh về cây lúa việt nam lớp 9
#Thuyết minh về cây lúa tự thuật
#Thuyết minh về cây lúa lớp 8
#Việt một đoạn văn thuyết minh về cây lúa có sử dụng yếu tố miêu tả
#thuyết minh về cây lúa lớp 8 (ngắn)
#Thuyết minh về cây lúa Facebook

Bạn thấy không, chúng tôi tuy nhỏ bé nhưng lại có rất nhiều lợi ích.Vậy mà có những người coi thường chúng tôi quê mùa, không ngon. Nhưng bạn biết không, chúng tôi chính là minh chứng cho sự cần cù và tần tảo của người nông dân vì vậy trân trọng chúng tôi chính là bạn đang trân trọng người nông dân quê mình đấy.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

%d bloggers like this: